Xu Hướng 3/2024 # Top 6 Bài Soạn “Nước Đại Việt Ta” Của Nguyễn Trãi Lớp 8 Hay Nhất # Top 3 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Top 6 Bài Soạn “Nước Đại Việt Ta” Của Nguyễn Trãi Lớp 8 Hay Nhất được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Exas.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bài soạn “Nước Đại Việt ta” số 3

A- KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

1. Tác giả: Nguyễn Trãi:

2. Tác phẩm:

B. BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI

Câu 1: trang 69 sgk Ngữ văn 8 tập 2

Đoạn trích là phần mờ đầu bài Bình Ngô đại cáo. Đoạn này có ý nghĩa nêu tiến đề cho toàn bài, tất cả nội dung được phát triển về sau được xoay quanh tiển đề đó. Theo em, khi nêu tiền đề, tác giả đã khẳng định những chân lí nào?

Câu 6*: trang 69 sgk Ngữ văn 8 tập 2

Thử khái quát trình tự lập luận của đoạn trích Nước Đại Việt ta bằng một sơ đồ.

Bài làm:

Bài soạn “Nước Đại Việt ta” số 4

Bài soạn “Nước Đại Việt ta” số 3

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Nguyễn Trãi trong SGK Ngữ văn 7 Tập 1).

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Văn bản Nước Đại Việt ta được trích từ Bình Ngô đại cáo. Bình Ngô đại cáo là một bài cáo có ý nghĩa trọng đại như một bản tuyên ngôn độc lập, được công bố vào ngày 17 tháng chạp năm Đinh Mùi (tức đầu năm 1428), sau khi quân ta đại thắng, tiêu diệt và làm tan rã 15 vạn viện binh của quân Minh xâm lược, buộc Vương Thông phải giảng hòa, chấp nhận rút quân về nước. Bài đại cáo này được viết theo lối văn biền ngẫu, có vận dụng thể tứ lục, kết cấu cũng gồm 4 phần như thể cáo nói chung. Đoạn trích Nước Đại Việt ta là do Bùi Văn Nguyên dịch dựa theo bản dịch của Bùi Kỉ. Nhan đề của đoạn trích là do người biên soạn SGK đặt.

* Thể loại: Cáo là thể văn nghị luận cổ, thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương hay công bố kết quả một sự nghiệp để mọi người cùng biết.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Đoạn trích là phần mở đầu bài Bình Ngô đại cáo. Đoạn này có ý nghĩa nêu tiền đề cho bài, tất cả nội dung được phát triển về sau đều xoay quanh tiền đề đó. Theo em, khi nêu tiền đề, tác giả đã khẳng định những chân lí:

Câu 2:

* Qua hai câu thơ:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

* Người dân mà tác giả nói đến ở đây chính là người dân Đại Việt đang bị xâm lược, còn kẻ bạo ngược chính là lũ giặc Minh cướp nước.

Câu 3:

* Để khẳng định chủ quyền độc lập của dân tộc, tác giả đã dựa vào những yếu tố: nền văn hiến lâu đời, cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán, lịch sử riêng, chế độ riêng, bình đẳng, ngang hàng với các triều đại Trung Quốc.

* Nhiều ý kiến cho rằng, ý thức dân tộc ở đoạn trích Nước Đại Việt ta là sự tiếp nối và phát triển ý thức dân tộc ở bài thơ Sông Núi nước Nam là bởi vì trong bài Sông núi nước Nam, ý thức dân tộc được xác định chủ yếu trên hai yếu tố là lãnh thổ và chủ quyền, còn đến đoạn trích Nước Đại Việt ta, 3 yếu tố nữa đã được bổ sung đó là văn hiến, lịch sử và phong tục tập quán. Như vậy, Nguyễn Trãi đã ý thức được rằng văn hiến, truyền thống lịch sử cũng là một trong những yếu tố quan trọng để xác định một dân tộc độc lập, có chủ quyền.

Câu 4:

Những nét đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích:

Câu 5:

Sức thuyết phục của văn chính luận Nguyễn Trãi là ở chỗ kết hợp giữa lí lẽ và thực tiễn. Trong đoạn trích Nước Đại Việt ta, Nguyễn Trãi đã tự tin khẳng định về nền văn hiến lâu đời của dân tộc ta. Và trên thực tiễn, chúng ta – những người con đất Việt cũng luôn tự hào về những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Mặt khác, nhân dân ta có chủ quyền, có thuần phong mĩ tục riêng làm nên hai miền Nam – Bắc. Ta cũng có nền độc lập vững vàng được xây dựng bằng những trang sử vẻ vang. Đồng thời, tác giả lấy những “chứng cớ còn ghi” để chứng minh cho sức mạnh của chính nghĩa, đồng thời thể hiện niềm tự hào dân tộc.

Câu 6:

Trình tự lập luận của đoạnl trích Nước Đại Việt ta:

Bài soạn “Nước Đại Việt ta” số 4

Bài soạn “Nước Đại Việt ta” số 1

Bài soạn “Nước Đại Việt ta” số 4

* Bố cục

– Phần 1 ( 2 câu đầu): Tư tưởng nhân nghĩa.

– Phần 2 (8 câu tiếp): Nêu chân lí độc lập dân tộc.

– Phần 3 (còn lại): Trình bày kết quả.

Câu 1 (trang 69 sgk Ngữ Văn 8 tập 2):

Tiền đề của bài, tác giả khẳng định những chân lý:

+ Sự tồn tại độc lập về lãnh thổ, chủ quyền.

+ Có phong tục, tập quán.

+ Có nền văn hiến lâu đời.

+ Có lịch sử độc lập với nhiều triều đại.

→ Khẳng định sự tồn tại độc lập của quốc gia bằng lòng tự tôn, niềm tự hào dân tộc.

Câu 2 (trang 69 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

– Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi được thể hiện qua hai câu:

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

– Nhân nghĩa theo quan điểm của Nguyễn Trãi có nghĩa là: yên dân, trừ bạo.

+ Nhân nghĩa là khoan dung, an dân, vì dân.

+ Nhân nghĩa là lý tưởng xây dựng lý tưởng đất nước.

+ “yên dân” là thương dân, lo cho dân

+ “trừ bạo” lo diệt trừ giặc ngoại xâm, làm đất nước độc lập (diệt giặc Minh).

→ Tư tưởng “nhân nghĩa” theo Nguyễn Trãi có nghĩa là phải yên dân, yêu thương bảo vệ nhân dân. Tư tưởng này mang tính triết lý, bao trùm toàn bộ cuộc đời và các sáng tác của ông.

Câu 3 (trang 69 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

Để khẳng định chủ quyền độc lập của dân tộc, tác giả dựa vào những yếu tố:

+ Nền văn hiến từ lâu đời: nền văn hiến đã lâu

+ Phong tục tập quán

+ Lịch sử hình thành và phát triển riêng

+ Chế độ nhà nước riêng, bình đẳng, ngang tầm với các triều đại Trung Quốc

– Bài thơ Sông núi nước Nam của tác giả Lý Thường Kiệt đề cập tới sự độc lập lãnh thổ và chủ quyền nước Nam- vua Nam ở.

– Tới Bình Ngô Đại cáo Nguyễn Trãi vẫn khẳng định về lãnh thổ, chủ quyền. Có mở rộng, khẳng định nền văn hiến lâu đời, phong tục, lịch sử triều đại.

+ Thể loại văn biền ngẫu giúp cho việc diễn giải ý thơ được chi tiết và kỹ càng hơn.

Câu 4 (trang 69 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

Nghệ thuật của đoạn trích được thể hiện qua:

– Cách sử dụng từ ngữ: khẳng định được sự tồn tại lâu đời, hiển nhiên về nhiều phương diện.

– Thể cáo được viết bằng lối văn biền ngẫu, có đối, các câu dài ngắn không bị gò bó, các cặp có ai vế đối nhau.

– Lời lẽ có tính hùng biện, lập luận đanh thép, lí luận sắc bén.

– Kết cấu chặt chẽ, mạch lạc.

Câu 5 (trang 69 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

Sức thuyết phục của văn chính luận Nguyễn Trãi trong đoạn này thể hiện rõ ở cách lập luận của tác giả:

+ Quan điểm, tư tưởng “nhân nghĩa” xuyên suốt các tác phẩm .

+ Khẳng định lẽ phải thuộc về ta, địch là kẻ bạo ngược, ắt sẽ bị tiêu diệt.

+ Việc tiêu diệt kẻ thù là việc tất yếu bởi đất nước ta độc lập.

+ Minh chứng cho sự độc lập: lãnh thổ, văn hiến, phong tục, triều đại.

Lý lẽ, dẫn chứng của tác giả:

+ Dẫn ra sự thất bại thảm hại của những kẻ bạo ngược, làm điều trái nhân nghĩa: Lưu Cung, Triệu Tiết, Ô Mã, Toa Đô.

+ Lấy chứng cớ từ sử sách- điều không thể chối cãi.

+ Lời lẽ đanh thép, hùng hồn, minh chứng cho sức mạnh chính nghĩa.

+ Thể hiện niềm tự hào dân tộc

Câu 6 (trang 69 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

Sơ đồ khái quát trình tự lập luận của đoạn trích Nước Đại Việt ta

Tư tưởng nhân nghĩa:

Văn hiến

Lãnh thổ

Phong tục

Lịch sử

Triều đại độc lập

Luyện tập (trang 70 sgk ngữ văn 8 tập 2)

Mở bài:

Dẫn dắt, vấn đề cần nghị luận.

Thân bài:

– 2 văn bản đều thể hiện chung khát vọng tự do, độc lập. Những lời khẳng định chắc chắn, dõng dạc về chủ quyền của dân tộc, vì thế mà hai văn bản được coi là bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc.

– Văn bản Nam Quốc sơn hà ra đời trong thế kỷ XI trong cuộc kháng chiến chống Tống. Bài thơ khẳng định chủ quyền thông qua hai yếu tố: lãnh thổ và chủ quyền.

Nước Đại Việt ta ngoài hai yếu tố trên còn bổ sung thêm các yếu tố về văn hiến, phong tục tập quán, lịch sử, anh hùng hào kiệt.

→ Thể hiện sự kế thừa và phát triển về ý thức dân tộc Đại Việt từ thế kỉ XI đến thế kỉ XV.

Kết bài: Khẳng định tư tưởng về dân tộc đã có sự tiếp nối, phát triển.

– Liên hệ với sự tiếp nối ý thức dân tộc thời hiện nay.

Bài soạn “Nước Đại Việt ta” số 2

Bài soạn “Nước Đại Việt ta” số 1

Trả lời câu 1 (trang 69, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Khi nêu tiền đề sự tồn tại độc lập có chủ quyền của dân tộc Việ Nam ta. Nguyễn Trãi đã khẳng định những chân lý:

– Nước ta có nền văn hiến lâu đời.

– Nước ta có cương vực lãnh thổ riêng.

– Nước ta có phong tục tập quán.

– Nước ta có lịch sử riêng, chế độ riêng.

Trả lời câu 2 (trang 69, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

– Cốt lõi tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là “yên dân”, “trừ bạo”. Yên dân là cho dân được an hưởng thái bình, hạnh phúc. Muốn yên dân thì phải trừ diệt mọi thế lực bạo tàn.

– Như vậy, với Nguyễn Trãi, nhân nghĩa gắn liền với yêu nước, chống ngoại xâm. Nhân nghĩa không những trong quan hệ giữa người với người mà còn trong quan hệ giữa dân tộc với dân tộc.

Trả lời câu 3 (trang 69, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Nguyễn Trãi đưa ra những yếu tố căn bản để xác định độc lập, chủ quyền của dân tộc:

– Nền văn hiến lâu đời

– Cương vực lãnh thổ

– Phong tục tập quán

– Lịch sử riêng

– Chế độ riêng.

Đây chính là sự tiếp nối và phát triển ý thức dân tộc so với bài thơ “Sông núi nước Nam” bởi tính toàn diện và sâu sắc của nó.

Trả lời câu 4 (trang 69, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Những nét đặc sắc về nghệ thuật trong đoạn trích:

– Tác giả sử dụng nhiều lớp từ ngữ diễn đạt tính chất hiển nhiên, vốn có lâu đời của nước Đại Việt ta. Các từ như: từ trước, vốn xưng, đã lâu, đã chia, cũng khác,…

– Biện pháp so sánh kết hợp với liệt kê cũng tạo cho đoạn văn hiệu quả cao trong lập luận.

– Những câu văn biền ngẫu chạy song song liên tiếp với nhau cũng giúp cho nội dung nghệ thật và chân lí mà tác giả muốn khẳng định chắc chắn và rõ ràng hơn.

Trả lời câu 5 (trang 69, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

– Câu văn biến ngẫu cân xứng, nhịp nhàng.

– Ở Bình Ngô đại cáo sau khi nêu nguyên lí nhân nghĩa, nêu chân lí khách quan. Nguyễn Trãi đưa ra những chứng minh đầy tính thuyết phục về sức mạnh của nhân nghĩa, của chân lí, nói chung lại là sức mạnh của chính nghĩa

Trả lời câu 6 (trang 69, SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Có thể khái quát trình tự lập luận trong đoạn trích Nước Đại Việt ta bằng sơ đồ sau:

Nguyên lí nhân nghĩa:

a. Yên dân

B. Trừ bạo

Luyện tập

⟶ Thể hiện sự kế thừa và phát triển về ý thức dân tộc Đại Việt từ thế kỉ XI đến thế kỉ XV.

Bố cục

3 phần

– Phần 1 (2 câu đầu): Tư tưởng nhân nghĩa.

ND chính

Nước Đại Việt ta có ý nghĩa như bản tuyên ngôn độc lập: Nước ta là đất nước có nền văn hiến lâu đời, có lãnh thổ riêng, phong tục riêng, có chủ quyền, có truyền thống lịch sử; kẻ xâm phạm là phản nhân nghĩa, nhất định thất bại.

Bài soạn “Nước Đại Việt ta” số 5

ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

Câu 1. Đoạn trích là phần mở đầu bài Bình Ngô đại cáo. Đoạn này có ý nghĩa nêu tiền đề cho toàn bài. Tất cả nội dung được phát triển về sau đều xoay quanh tiền đề đó.

Những tiền đề tác giả nêu lên đều có tính chất chân lí, theo em có những chân lí nào được khẳng định?

Trả lời: Đoạn trích này đã khẳng định những chân lí sau đây:

a) Làm điều nhân nghĩa, cốt yếu nhất là phải làm cho nhân dân được sống cuộc đời yên bình.

b) Nước ta và nước Trung Hoa phong kiến là hai quốc gia riêng biệt, đã song song tồn tại từ nhiều triều đại.

c) Ở thời nào, chúng ta cũng có người hào kiệt nên nhiều tướng giặc xâm lăng nước ta đã phải thất bại nhục nhã, có người phải bỏ mạng tại đất này.

Câu 2. Qua hai câu “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân – Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” có thể hiểu cốt lõi tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là gì? Người dân ở đây là ai? Kẻ bạo ngược là những kẻ nào?

Trả lời:

Hai câu:

Cho ta thấy rõ điều cốt lõi trong tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là: yêu nước, thương dân. Người lãnh đạo đất nước phải biết chăm lo cho đời sống của muôn dân và phải biết chiến đấu để bảo vệ biên cương bờ cõi, giữ cho đất nước được độc lập, thanh bình.

Người dân mà tác giả nói đến là tất cả mọi công dân, trong đó phần đông nhất là những người dân lao động bình thường. Họ thuộc nhiều dân tộc khác nhau cùng sống chung trên lãnh thổ Việt Nam.

Kẻ bạo ngược là những kẻ gian tham, độc ác dùng quyền lực để áp bức, bóc lột nhân dân, là kẻ thù xâm lược.

Câu 3. Để khẳng định chủ quyền độc lập dân tộc, tác giả đã dựa vào các yếu tố nào?

Trả lời: Để khẳng định chủ quyền độc lập dân tộc, tác giả đã dựa vào các yếu tố sau:

a) Yếu tố văn hóa:

Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,…

Phong tục Bắc Nam cũng khác.

Nước Đại Việt đã được thành lập từ lâu nên có cả một truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp, trong đó những phong tục, tập quán của dân ta ở phương Nam khác hẳn những phong tục tập quán của các dân tộc Trung Hoa ở phương Bắc.

b) Yếu tố địa lí:

Núi sông bờ cõi đã chia

Mỗi nước đã có biên cương bờ cõi, núi sông riêng biệt.

c) Yếu tố lịch sử:

Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập,

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương,

Nước Việt Nam và nước Trung Hoa đã có nhiều triều đại cùng song song tồn tại, mỗi bên có chủ quyền riêng, có nền độc lập riêng.

– Đoạn trích Nước Đại Việt ta là sự tiếp nối và phát triển ý thức dân tộc ở bài thơ Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt. Vì sao?

Trả lời: Đúng là đoạn trích Nước Đại Việt ta là sự tiếp nối và phát triển ý thức dân tộc ở bài thơ Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt vì bài thơ Sông núi nước Nam đã khẳng định:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!

(Dịch nghĩa:

Đất nước Nam có vua Nam ở

Điều này đã ghi rành rành tại sách trời

Cớ chi quân bay tới đây xâm lược

Nhất định chúng bay sẽ phải chuốc lấy thất bại)

Và trong bài Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi lại một lần nữa nhắc lại ý trên bằng lời lẽ khác, bằng một cách nói khác.

Như nước Đại Việt ta từ trước,

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,

Núi sông bờ cõi đã chia,

Phong tục Bắc Nam cũng khác…

Lưu Cung tham công nên thất bại,

Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong,

Cửa Hầm Tủ bắt sống Toa Đô,

Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã.

Như vậy là cả hai văn bản này đều khẳng định chủ quyền và nền độc lập của nước Việt Nam và khẳng định sự thất bại thảm hại của mọi kẻ thù xâm lược.

Câu 4. Nghệ thuật của đoạn văn có gì đặc sắc?

Trả lời: Đoạn văn thể hiện một nghệ thuật viết đặc sắc:

Các từ ngữ: từ trước, vốn xưng, đã lâu, đã chia, cũng khác đã kết hợp chặt chẽ với nhau giống như các móc xích trong một dây xích làm cho ý khẳng định chủ quyền của nước Đại Việt luôn xuyên suốt đoạn văn và trở nên rất vững chắc.

Câu văn biền ngẫu sóng đôi cân xứng có tác dụng nâng cao vị thế của đất nước ta lên ngang hàng với đất nước Trung Quốc, nâng cao vị thế của các triều đại của chúng ta lên ngang hàng với các triều đại Trung Quốc:

Vốn xưng nền văn hiến dã lâu…

Ởsáu câu này thì bốn câu đều được viết ngắn thể hiện một sự khẳng định đanh thép, nhưng hai câu cuối lại giãn dài ra và cái âm hưởng kéo dài ra của hai câu văn đã góp phần nói lên sự đường hoàng tương xứng của các triều đại Việt Nam so với các triều đại Trung Hoa. Đó cũng là hiệu quả của sự so sánh: so sánh để khẳng định sự ngang tầm. Mấy từ “mỗi bên xưng đế một phương” thật sảng khoái, hào hùng.

Câu 5. Sức thuyết phục của văn chính luận Nguyễn Trãi là ở chỗ kết hợp giữa lí lẽ và thực tiễn. Hãy chứng minh điều đó.

Chứng minh:

Lí lẽ chính ở đoạn trích này là bàn về nhân nghĩa.

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,

nhằm làm nổi bật các ý: phải đánh đuổi, trừng phạt kẻ bạo ngược tham tàn để giữ gìn cuộc sống yên bình của muôn dân. Từ đó nêu ra nhiều dẫn chứng thực tế về văn hóa, địa lí, lịch sử để khẳng định rằng nước Đại Việt đã được thành lập từ lâu, đã cùng các triều đại Trung Hoa song song tồn tại và nước Đại Việt luôn trọng điều nhân nghĩa nên ở thời đại nào cũng có nhiều người hào kiệt tài giỏi đứng lên cùng toàn dân đánh đuổi giặc ngoại xâm để giữ cho dân yên, sông núi vẹn toàn. Sự thất bại thảm hại của nhiều tướng giặc đã được sử sách ghi lưu.

Câu 6. Thử khái quát trình tự lập luận của đoạn trích này bằng một sơ đồ.

Sơ đồ

Nước Đại Việt ta luôn coi trọng nhân nghĩa là một quốc gia độc lập

Có nền văn hiến lâu đời

Có lãnh thổ riêng

Có phong tục riêng

Có chủ quyền

Có truyền thống lịch sử vẻ vang

LUYỆN TẬP

Trên cơ sở so sánh với bài thơ Sông núi nước Nam, hãy chỉ ra sự tiếp nối và phát triển của ý thức độc lập dân tộc trong đoạn trích Nước Đại Việt ta.

– Xem lại câu 3 ở trên để giải quyết vấn đề này.

– Lưu ý trên: Bài thơ Sông núi nước Nam chủ yếu là cô đúc lí lẽ trong bốn câu thơ mạnh mẽ đanh thép, còn Nước Đại Việt ta triển khai thêm luận điểm nhân nghĩa và nhiều dẫn chứng về văn hóa, địa lí, lịch sử để khẳng định nền độc lập tự chủ của nước nhà trong một lối văn chính luận cân đối, nhịp nhàng, chặt chẽ, giàu tính thuyết phục.

Bài soạn “Nước Đại Việt ta” số 5

Bài soạn “Nước Đại Việt ta” số 6

Bài soạn “Nước Đại Việt ta” số 5

I- Tìm hiểu chung bài Nước Đại Việt ta

1. Tác giả

Bình Ngô đại cáo được công bố sau khi khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh xâm lược dành thắng lợi trong không khí hào hùng của ngày vui chiến thắng, đất nước sạch bóng quân thù, mở ra kỉ nguyên mới cho dân tộc

II- Soạn bài Nước Đại Việt ta

Câu 1 trang 69 SGK văn 8 tập 2:

Khi nêu tiền đề, tác giả đã khẳng định những chân lí:

Câu 2 trang 69 SGK văn 8 tập 2:

Câu 3 trang 69 SGK văn 8 tập 2:

Để khẳng định chủ quyền của dân tộc tác giả đã dựa vào các yếu tố:

Câu 4 trang 69 SGK văn 8 tập 2:

Nét đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích:

Câu văn biền ngẫu, hai vế sóng đôi, đối xứng tạo nên sự nhịp nhàng

Lập luận chặt chẽ, sắc bén

Câu 5 trang 69 SGK văn 8 tập 2:

Sức thuyết phục của văn chính luận Nguyễn Trãi là ở chỗ kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và thực tiễn:

Để khẳng định Đại Việt là một đất nước có độc lập, tự chủ, Nguyễn Trãi đã căn cứ vào thực tiễn là nền văn hiến lâu đời của dân tộc ta, chúng ta có phong tục tập quán, lịch sử lâu đời. Bên cạnh đó, để chứng minh đất nước ta không hề thua kém các thế lực phong kiến phương Bắc, tác giả đã đặt các triều đại cạnh nhau để làm nổi bật điều đó.

Câu 6 trang 69 SGK văn 8 tập 2:

Có nền văn hiến lâu đời

Có lãnh thổ riêng

Có phong tục riêng

Có chủ quyền

Có truyền thống lịch sử vẻ vang

III- Luyện tập Nước Đại Việt ta

Sự tiếp nối và phát triển ý thức dân tộc trong Nước Đại Việt ta:

Đăng bởi: Hoàng Bảo

Từ khoá: Top 6 Bài soạn “Nước Đại Việt ta” của Nguyễn Trãi lớp 8 hay nhất

6 Bài Soạn “Nghĩa Của Từ” Lớp 6 Hay Nhất

Bài soạn “Nghĩa của từ” số 6

A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

B. BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI

Bài 1 (Trang 36 SGK) Đọc lại một vài chú thích ở các văn bản đã học. Cho biết cách giải thích nghĩa của từng trường hợp.

Bài soạn “Nghĩa của từ” số 2

Bài soạn “Nghĩa của từ” số 6

Phần I: NGHĨA CỦA TỪ LÀ GÌ?

– tập quán: thói quen của một cộng đồng (địa phương, dân tộc…) được hình thành từ lâu trong cuộc sống, được mọi người làm theo.

– lẫm liệt: hùng dũng, oai nghiêm.

– nao núng: lung lay, không vững lòng tin ở mình nữa.

Em hãy cho biết:

1. Mỗi chú thích trên gồm mấy bộ phận?

2. Bộ phận nào chú thích nêu lên nghĩa của từ?

Lời giải chi tiết:

1. Mỗi chú thích trên gồm hai bộ phận.

2. Bộ phận nêu lên nghĩa của từ là bộ phận đứng đằng sau dấu hai chấm.

3. Nghĩa của từ ứng với phần nội dung trong mô hình.

Phần II: CÁCH GIẢI THÍCH NGHĨA CỦA TỪ

Trong mỗi chú thích trong câu 1, nghĩa của từ được giải thích bằng cách nào?

– tập quán được giải thích bằng cách trình bày khái niệm mà từ biểu thị (thói quen của một cộng đồng được hình thành từ lâu đời trong đời sống, được mọi ngời làm theo)

– lẫm liệt, nao núng được giải thích bằng cách đưa ra những từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa (hùng dũng, oai nghiêm; lung lay, không vững lòng tin ở mình nữa).

Phần III: LUYỆN TẬP

Trả lời câu 1 (trang 36 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

Đọc lại một vài chú thích ở sau các văn bản đã học. Cho biết mỗi chú thích giải nghĩa từ theo cách nào?

– hoảng hốt: chỉ tình trạng sợ sệt, vội vã, cuống quýt (giải nghĩa từ bằng từ đồng nghĩa).

– trượng: đơn vị đo bằng thước Trung Quốc (trình bày khái niện mà từ biểu thị).

– tre đằng ngà: giống tre có lớp cật ngoài trơn, bóng, màu vàng (giải nghĩa bằng cách trình bày khái niệm mà từ biểu thị)

Trả lời câu 2 (trang 36 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

Hãy điền các từ học hỏi, học tập, học hành, học lỏm vào chỗ trống trong những câu ở bài tập 2 SGK tr.36 sao cho phù hợp.

– học tập: học và luyện tập để có hiểu biết, kĩ năng.

– học lỏm: nghe hoặc thấy người ta làm rồi làm theo, chứ không được ai trực tiếp dạy bảo.

– học hỏi: tìm tòi, hỏi han để học tập.

– học hành: học văn hóa có thầy, có chương trình, có hướng dẫn (nói một cách khái quát).

Trả lời câu 3 (trang 36 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

Điền các từ trung gian, trung niên, trung bình vào chỗ trống ở bài tập 3 cho phù hợp.

– trung bình: ở vào khoảng giữa trong bậc thang đánh giá, không khá cũng không kém, không cao cũng không thấp.

– trung gian: ở vị trí chuyển tiếp nối liền giữa hai bộ phận, hai giai đoạn, hai sự vật…

– trung niên: đã quá tuổi thanh niên nhưng chưa đến tuổi già.

Trả lời câu 4 (trang 36 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

Giải thích các từ sau theo những các đã biết:

– giếng

– rung rinh

– hèn nhát.

– giếng: hố đào thẳng đứng, sâu vào lòng đất, để lấy nước.

– rung rinh: chuyển động qua lại, nhẹ nhàng, liên tiếp.

– hèn nhát: thiếu can đảm (đến mức đáng khinh bỉ).

Trả lời câu 5 (trang 36 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

Đọc truyện Thế thì không mất trong SGK tr.36 và cho biết giải nghĩa từ mất như nhân vật Nụ có đúng không.

– Mất theo cách giải nghĩa của nhân vật Nụ là “không biết ở đâu”.

– Mất hiểu theo cách thông thường (như trong cách nói mất cái ví, mất cái ống vôi…) là không còn được sở hữu, không có, không thuộc về mình nữa.

Như vậy, cách giải thích của nhân vật Nụ chiếu theo cách hiểu thông thường là sai. Nhưng trong văn cảnh, cách giải thích đã thể hiện sự thông minh của cái Nụ và được chấp nhận.

Bài soạn “Nghĩa của từ” số 2

Bài soạn “Nghĩa của từ” số 1

Bài soạn “Nghĩa của từ” số 2

I. Nghĩa của từ là gì?

1. Mỗi chú thích trên gồm hai phần: từ ngữ và nội dung của từ ngữ

2. Bộ phận trong chú thích nêu lên nghĩa của từ: nội dung của từ ngữ

3. Nghĩa của từ ứng với phần: nội dung của từ

II. Cách giải thích nghĩa của từ

1. Đọc lại chú thích phần I

2. Nghĩa của từ được giải thích bằng cách: đưa ra khái niệm và đưa ra từ đồng nghĩa, hoặc trái nghĩa.

III. Luyện tập

Bài 1 (trang 36 sgk ngữ văn 6 tập 1)

Các chú thích ở trong sách giáo khoa giải thích từ ngữ theo hai cách:

– Đưa ra khái niệm, định nghĩa

– Đưa ra từ đồng nghĩa, trái nghĩa

Bài 2 (trang 36 sgk ngữ văn 6 tập 1)

– Học tập

– Học lỏm

– Học hỏi

– Học hành

Bài 3 (Trang 36 sgk ngữ văn 6 tập 1)

Các từ cần điền

– Trung bình

– Trung gian

– Trung niên

Bài 4 (trang 36 sgk ngữ văn 6 tâp 1)

– Giếng: hố đào thẳng đứng, sâu trong lòng đất có dáng hình trụ, dùng để lấy mạch nước ngầm

– Rung rinh: trạng thái rung động, đung đưa của sự vật

– Hèn nhát: sợ sệt, thiếu can đảm đến mức đáng khinh

Bài 5 (trang 36 sgk ngữ văn 6 tập 1)

– Từ mất có nhiều nghĩa:

+ Nghĩa 1: không còn thuộc về mình nữa

+ Nghĩa 2: không thấy, không còn nhìn thấy nữa

+ Nghĩa 3: chết

Nhân vật nụ đã dựa vào việc cô chủ hiểu theo nghĩa thứ hai để tự bào chữa cho mình trong việc đánh rơi cái ống vôi của cô chủ xuống lòng sông.

Bài soạn “Nghĩa của từ” số 5

Bài soạn “Nghĩa của từ” số 1

KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1.Nghĩa của từ là gì ?

Từ bao gồm hai phần : phần hình thức và, phần nội dung. Phần hình thức được thể hiện ra thành chữ khi viết, thành tiếng khi đọc. Phần nội dung được thể hịện ra thành nghĩa của từ.

Nghĩa của từ là nội dung mà từ biểu thị. Nội dung đó có thể là sự vật, tính chất, hoạt động, quan hệ. Khi ta nhìn một chữ, hoặc nghe một tiếng mà ta hiểu được chữ đó, tiếng đó biểu thị cái gì là ta đã hiểu được nghĩa của từ đó.

Ví dụ, khi ta nghe ai đọc từ tập quấn mà trong đầu ta hiểu được rằng từ đó biểu thị “thói quen của một cộng đồng được hình thành từ lâu trong đời sống, được mọi người làm theo” là ta đã hiểu nghĩa của từ này.

2.Cách giải thích nghĩa của từ .

Có thể giải thích nghĩa của từ theo nhiều cách khác nhau. Trong SGK đã đưa ra hai cách giải thích nghĩa thường gặp nhất:

-Cách thứ nhất là giải thích, bằng việc trình bày khái niệm mà từ biểu thị. Để có thể giải thích nghĩa theo cách này, các em cần phải chịu khó xem từ điển và học cách giải thích của từ điển rồi tự rút cho mình cách giải thích sao cho ngắn gọn và dễ hiểu.

-Cách thứ hai là giải thích bằng việc đưa ra những từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ cần giải thích. Muốn giải thích được bằng cách này, các’ em cần phải không ngừng làm giàu vốn từ đồng nghĩa và trái nghĩa của minh.

GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI SÁCH GIÁO KHOA

Câu 1. Có thể coi mỗi chú thích có trong SGK là một lời giải thích nghĩa. Để nhận ra chú thích giải nghĩa theo cách nào, các em có thể xem lời giải thích đó có sử dụng từ. đồng nghĩa, trái nghĩa không. Nếu không có thì đó là giải thích theo cách trình bày khái niệm mà từ biểu thị (cách 1). Nếu có thì đó là giải thích theo cách dùng từ đổng nghĩa, trái nghĩa (cách 2).

Cũng cần chú ý thêm rằng, có những lời giải thích ‘sử dụng đan xen, phối hợp cả hai loại : vừa giải thích theo cách trình bày khái niệm mà từ biểu thị, vừa giải thích theo cách dùng từ đồng nghĩa, trái nghĩa.

-Cầu hôn : xin được lấy làm vợ (cách l).

-Phán : truyền bảo (cách 2).

-Sính lễ : lễ vật nhà trai đem đến nhà gái để xin cưới (cách 1).

-Tâu : thưa trình (cách 2).

-Nao núng : lung lay, không vững lòng tin ở mình nữa (phối hợp cả cách 2 và cách 1).

Câu chúng tôi có nhận xét: Các từ ghép trên cùng có chung yếu tố học: Vì thế, sự khác nhau chủ yếu được tạo ra bởi các yếu tố đứng sau. Để điền đúng, Các em hãy tìm hiểu sự khác biệt của các yếu tố :

-hỏi: nói ra điều mình muốn người khác trả lời cho rõ ;

-tập : luyện tập, rèn luyện ;

-hành : thực hành.

Dựa vào nghĩa của các yếu tố đứng sau như vừa chỉ ra ở trên, các em có thể điền như sau :

-học tập : học và luyện tập để có hiểu biết, có kĩ năng.

-học lỏm : nghe hoặc thấy người ta làm rồi làm theo, chứ không được ai trực tiếp dạy bảo.

-học hỏi: tìm tòi, hỏi han để học tập.

-học hành : học văn hoá có thầy, có chương trình, có hướng dẫn (nói một cách khái quát).

Câu 3. Cách giải bài tập này tương tự bài tập 2. Các em có thể tham khảo nghĩa của từng yếu tố như sau :

-trung : ở vào khoảng giữa ;

-gian : phần giới hạn ;

-niên : năm ;

-bình : ngang nhau.

Dựa vào nghĩa của từng yếu tố này, các em có thể điền như sau :

-trung bình : ở vào khoảng giữa trong bậc thang đánh giá, không khá cũng không kém, không cao cũng không thấp,

-trung gian : ở vị trí chuyển tiếp hoặc nối liền giữa hai bộ phận, hai giai đoạn, hai sự vật,…

-trung niên : đã quá tuổi thanh niên nhưng chưa già.

Câu 4. Các em có thể tham khảo những cách giải thích sau :

-giếng : hố đào thẳng đứng, sâu vào lòng đất, thường để lấy nước (cách 1);

-rung rinh : rung động, đung đưa (cách 2);

-hèn nhát : thiếu can đảm đến mức đáng khinh (cách 1) ; run sợ đớn hèn (cách 2).

Câu 5. Từ mất có nhiều nghĩa :

-nghĩa 1 : không còn thuộc về mình nữa. Ví dụ : mất của, mất cái ví ;

-nghĩa 2 : không có, không thấy. Ví dụ : mất tín hiệu, mất liên lạc ;

-nghĩa 3 : không có ở mình nữa. Ví dụ : mất tự nhiên, mất lòng tin.

Nhân vật Nụ vì sợ cô chủ mắng nên đã lợi dụng việc cô chủ hiểu từ mất theo nghĩa thứ hai (không nhìn thấy) để bào chữa việc đánh rơi mất cái ống vôi của cô chủ xuống lòng sông (hiểu theo nghĩa thứ nhất : không còn thuộc về mình nữa, không; thể sử dụng được nữa vì nó đã ở dưới lòng sông, không thể lấy lại được).

THAM KHẢO

Đánh trống bỏ dùi

Thoạt nghe, tưởng chừng thành ngữ “đánh trống bỏ dùi” chẳng có vấn đề gì về mặt chữ nghĩa, vậy mà chính nó là một thành ngữ khá phức tạp, không đơn giản như nhiều người vẫn hiểu. Tất cả.cũng chỉ tại một chữ dùi!

Thông thường, nhiều người diễn ‘giải rằng “đánh trống bỏ dùi” là dùng dùi để đánh trống và đánh xong thì đem vất dùi đi. Từ đó mà suy diễn ra nghĩa của thành ngữ. Có người còn suy ra là người đánh trống, khi xong công việc thì chỉ mang trống về, chỉ giữ gìn lấy trống mà vất dùi lại, chẳng tiếc gì thứ ‘rẻ tiền” đó nữa.

Trách ai tham trống bỏ dùi

(Ca dao)

Nhưng lại có một cách hiểu khác về chữ dùi. Dùi là tên gọi những tiếng trống lẻ sau những hồi trống dài, liên tục. Như vậy, dùi còn mang ý nghĩa như tiếng do phép hoán dụ, dùng phương tiện hành động chỉ kết quả hành động. Trong thổ ngữ Nghệ Tĩnh, dùi và tiếng song song tồn tại bên nhau và có khả năng thay thế cho nhau : ba hồi chín dùi = ba hồi chín tiếng. Đáng lưu ý là những dùi trống riêng lẻ này rất quan trọng vì chúng là tín hiệu góp phần phân biệt quy định các hiệu lệnh khác nhau của hồi trống “ba hồi chín dùi” có nội dung thông báo khác với hiệu lệnh “ba hồi ba dùi”. Đánh trống mà bỏ (không đánh) những dùi lẻ này thì người nghe không thể biết đó là hiệu lệnh gì để đáp ứng yêu cầu kịp thời. Ấy vậy là làm việc không chu đáo và thiếu trách nhiệm.

Bài soạn “Nghĩa của từ” số 3

Bài soạn “Nghĩa của từ” số 5

Bài tập trang 35 sgk

– tập quán : thói quen của một cộng đồng (địa phương, dân tộc, …) được hình thành từ lâu trong đời sống, được mọi người làm theo.

– lẫm liệt : hùng dũng, oai nghiêm

– nao núng : lung lay, không vững lòng tin ở mình nữa

Em hãy cho biết :

Câu 1: Mỗi chú thích trên gồm mấy bộ phận?

Câu 2: Bộ phận nào trong chú thích nên lên nghĩa của từ?

Trả lời

Câu 1: Mỗi chú thích đã cho gồm 2 bộ phận:

– Chữ đậm: từ

– Chữ thường: giải thích nghĩa (sau dấu hai chấm).

Câu 2: Bộ phận trong chú thích nêu lên nghĩa của từ là: Bộ phận chữ thường, sau dấu hai chấm nêu lên nghĩa của từ.

Câu 3: Từ là đơn vị có tính hai mặt trong ngôn ngữ:

– Mặt nội dung và mặt hình thức.

– Mặt nội dung chính là nghĩa của từ.

Câu 1 – Trang 35 sgk

Đọc lại các chú thích đã dẫn ở phần I

– Học sinh đọc lại các chú thích ở phần I

Câu 2 – Trang 35 sgk

Mỗi chú thích trong câu 1, nghĩa của từ được giải thích bằng cách nào?

Trong ba trường hợp chú thích trên, nghĩa của từ được giải thích theo hai kiểu:

– Trình bày khái niệm mà từ biểu thị (tập quán).

– Đưa ra từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ được giải thích (lẫm liệt, nao núng).

Cụ thể:

– Tập quán được giải thích bằng cách trình bày khái niệm mà từ biểu thị (thói quen của một cộng đồng được hình thành từ lâu đời trong đời sống, được mọi ngời làm theo)

– Lẫm liệt, nao núng được giải thích bằng cách đưa ra những từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa (hùng dũng, oai nghiêm; lung lay, không vững lòng tin ở mình nữa).

Câu 1 – Trang 36 sgk

Ví dụ:

Câu 2 – Trang 36 sgk

– …: học và luyện tập để có hiểu biết, có kĩ năng.

– …: nghe hoặc thấy người ta làm rồi làm theo, chứ không được ai trực tiếp dạy bảo.

– …: tìm tòi, hỏi han để học tập.

– …: Học văn hóa có thầy, có chương trình, có hướng dẫn (nói một cách khái quát).

Có thể điền từ vào chỗ trống như sau:

– học hành : học và luyện tập để có hiểu biết, có kĩ năng

– học lỏm : nghe hoặc thấy người ta làm rồi làm theo, chứ không được ai trực tiếp dạy bảo.

– học hỏi : tìm tòi, hỏi han để học tập

– học tập : học văn hóa có thầy, có chương trình, có hướng dẫn (nói một cách khái quát).

Câu 3 – Trang 36 sgk

Điền các từ trung gian, trung niên, trung bình vào chỗ trống cho phù hợp:

– …: ở vào giữa trong bậc thang đánh giá, không khá cũng không kém, không cao cũng không thấp.

– …: ở vị trí chuyển tiếp hoặc nối liền giữa hai bộ phận, hai giai đoạn, hai sự vật,…

– …: đã quá tuổi thanh niên nhưng chưa đến tuổi già.

– trung bình : khoảng giữa trong bậc thang đánh giác, không khá cũng không kém, không cao cũng không thấp.

– trung gian : ở vị trí chuyển tiếp hoặc nối liền giữa hai bộ phận, hai giai đoạn, hai sự vật …

– trung niên : đã quá tuổi thanh niên nhưng chưa đến tuổi già.

Câu 4 – Trang 36 sgk

Giải thích các từ sau theo những cách đã biết:

– Giếng

– Rung rinh

– Hèn nhát

Giải thích các từ sau theo những cách đã biết :

– Giếng : hố đào thẳng đứng, sâu trong lòng đất, thường để lấy nước (Giải thích theo cách trình bày khái niệm mà từ biểu thị)

– Rung rinh : rung động, đung đưa (Giải thích theo cách đưa ra những từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa với từ cần giải thích)

– Hèn nhát :

Câu 5 – Trang 36 sgk

Đọc truyện sau đây và cho biết giải nghĩa từ mất như nhân vật Nụ có đúng không.

THẾ THÌ KHÔNG MẤT

Cô Chiêu đi đò với cái Nụ. Cái Nụ ăn trầu, lỡ tay đánh rơi ống vôi bạc của cô Chiêu xuống sông. Để cô Chiêu khỏi mắng mình, nó rón rén hỏi:

– Thưa cô, cái gì mà mình biết nó ở đâu rồi thì có thể gọi là mất được không cô nhỉ?

Cô Chiêu cười bảo:

– Cái con bé này hỏi đến lẩm cẩm. Đã biết là ở đâu rồi thì sao gọi là mất được nữa!

Cái Nụ nhanh nhảu tiếp luôn:

– Thế thì cái ống vôi của cô không mất rồi. Con biết nó nằm ở dưới đáy sông đằng kia. Con vừa đánh rơi xuống đấy.

(Theo Truyện tiếu lâm Việt Nam)

Ví dụ này đề cập đến hai loại nghĩa của từ:

– Nghĩa đen (nghĩa từ điển) khi bị tách ra khỏi văn bản mà nghĩa vẫn không đổi.

– Nghĩa bóng (nghĩa văn cảnh) khi từ nằm trong một hoàn cảnh nhất định, nằm trong mạng lưới quan hệ ý nghĩa với các từ khác trong văn bản.

*Giải thích nghĩa từ “mất”:

– Nghĩa đen: trái nghĩa với “còn”.

– Nghĩa văn cảnh (nghĩa bóng): Nhân vật Nụ đã giải thích nghĩa cụm từ không mất là biết nó ở đâu. Đặc biệt, cách giải thích của Nụ được cô Chiêu chấp nhận.

Như vậy, mất không phải là mất, mất có nghĩa là còn.

Kết luận:

So với cách giải nghĩa đen thì “mất” giải thích của Nụ là sai nhưng ở trong văn cảnh, trong truyện thì đúng và rất hay.

Bài soạn “Nghĩa của từ” số 3

Bài soạn “Nghĩa của từ” số 4

Bài soạn “Nghĩa của từ” số 3

1. Mỗi mục chú thích trên gồm có hai phần cơ bản như sau:

3. Nghĩa của từ tương ứng với phần: Nội dung của từ ngữ

II. Cách giải thích nghĩa của từ1. Có chú thích ở phần 1 ( sgk)

2. Nghĩa của từ được giải thích bằng các phương pháp sau:

Bài 1 trang 36 sgk ngữ văn 6 tập 1

Các chú thích ở trong sách giáo khoa giải thích từ ngữ theo hai phương pháp chính:

Bài 2 trang 36 sgk ngữ văn 6 tập 1:

Các từ cần điền:

Bài 3 Trang 36 sgk ngữ văn 6 tập 1

Các từ phù hợp:

Bài 4 trang 36 sgk ngữ văn 6 tâp 1

Bài 5 trang 36 sgk ngữ văn 6 tập 1

Từ ” mất”có nhiều ngữ nghĩa:

Đăng bởi: Ánhh Nguyệtt

Từ khoá: 6 Bài soạn “Nghĩa của từ” lớp 6 hay nhất

6 Bài Soạn “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” Lớp 6 Hay Nhất

Bài soạn “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” số 3

Bài 1 trang 116 SGK Ngữ văn 6 tập 1

Vì sao cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai so bì với lão Miệng?

Trả lời

– Vì họ cảm thấy mình làm việc nặng nhọc quanh năm chỉ đế cho lão Miệng ngồi ăn không.

Cô Mắt phải luôn nhìn.

Cậu Tay, cậu Chân phải luôn hoạt động.

Bác Tai phải luôn lắng nghe.

Theo họ lão Miệng không làm gì cả chỉ ngồi ăn không

Bài 2 trang 116 SGK Ngữ văn 6 tập 1

Truyện mượn các bộ phận của cơ thể người để nói chuyện con người. Có thể ví cơ thể người như một tổ chức, một cộng đồng,… mà Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng là những cá nhân trong tổ chức, cộng đồng đó. Từ mối quan hệ này, truyện nhằm khuyên nhủ, răn dạy con người điều gì?

– Từ khi có cô Mắt, cậu Tai, cậu Tay, bác Tai quyết định không làm gì nữa để mặc cho lão Miệng tự lo lấy mà sống. Hai ngày, ba ngày cả bọn thấy mệt mỏi rã rời không thể cất mình lên được đến ngày thứ bảy cả bọn không thể chịu đựng được nữa đã mệt mỏi họp nhau lại, bác Tai đã chỉ ra sự sai lầm của mọi người và sự vần thiết của lão Miệng. Lão Miệng cũng có công việc của mình : nhai thức ăn và nhờ có lão Miệng có nhai thức ăn thì mọi người mới khỏe được.

– Từ mối quan hệ này, truyện nhằm khuyên nhủ răn dạy con người nhiều bài học ý nghĩa:

Truyện mượn các bộ phận cơ thể người để nói chuyện con người, nói về các tổ chức trong xã hội.

Mỗi tổ chức, mỗi cá nhân có chức năng, nhiệm vụ riêng và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, không thể có tổ chức này mà thiếu đi tổ chức kia. Vì vậy, để tồn tại và phát triển, các tổ chức và cá nhân cần hợp tác, gắn bó với tập thể của mình để cùng nhau.

Câu chuyện là lời khuyên thiết thực và khôn ngoan đối với mọi người: “Một người vì mọi người”. Mỗi hành động, cách ứng xử của cá nhân không chỉ đơn giản tác động đến chính cá nhân ấy mà còn ảnh hưởng đến cả cộng đồng, tập thể.

Ví dụ: trong gia đình, mỗi người đều cần đóng góp công sức để xây dựng ngôi nhà luôn được ngắn nắp, gọn gàng và tất cả mọi người cùng vui vẻ, hạnh phúc. Không nên ghen tị, đùn đẩy công việc của mình cho người khác.

Luyện tập

Câu hỏi luyện tập trang 116 SGK Ngữ văn 6 tập 1

Hãy nhắc lại định nghĩa truyện ngụ ngôn và tên gọi của những truyện ngụ ngôn đã học.

Truyện ngụ ngôn là loại truyện kể, bằng văn xuôi hoặc văn vần, mượn chuyện về loài vật, đồ vật hoặc chính con người để nói bóng gió, kín đáo chuyện con người, nhằm khuyên nhủ, răn dạy con người ta bài học nào đó trong cuộc sống.

Những truyện ngụ ngôn mà em đã học trong chương trình là:

– Ếch ngồi đáy giếng

– Thầy bói xem voi

– Đeo nhạc cho mèo

– Chân, tay, tai, mắt, miệng.

Tóm tắt truyện Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng

Cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay và bác Tai vì ghen tị với lão Miệng chỉ ăn mà không làm gì cả nên bàn nhau để mặc lão Miệng, không cho lão ăn gì nữa. Mặc lão Miệng tha hồ ngạc nhiên, sửng sốt, sau khi thông báo cho lão Miêng biết, cả bọn kéo nhau ra về.

Từ đó lão Miệng, cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay và bác Tai lại sống hoà thuận, ai làm việc nấy, không ai còn ghen tị với ai nữa.

Tổng kết

Từ câu chuyện Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng để nói về bài học sống trong tập thể thì mỗi thành viên không thể sống tách biệt mà phải lương tựa vào nhau, gắn bó với nhau để cùng tồn tại; do đó phải biết hợp tác với nhau và tôn trọng công sức của nhau.

Bài soạn “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” số 2

Bài soạn “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” số 3

Trả lời câu 1 (trang 116 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

Lời giải chi tiết:

– Cô Mắt, Cậu Chân, cậu Tay, bác Tai so bì với lão Miệng vì đến một ngày nọ, họ nhận thấy rằng họ phải “làm việc mệt nhọc quanh năm, còn lão Miệng chẳng làm gì cả, chỉ ngồi ăn không’.

– Lập luận này xuất phát từ việc nhận định phiến diện bên ngoài: mắt nhìn, tay làm, chân đi, tai nghe, đều phục vụ cho lão miệng hưởng thụ.

Trả lời câu 2 (trang 116 sgk Ngữ Văn 6 Tập 1):

Truyện mượn các bộ phận của cơ thể người để nói chuyện con người, có thể ví cơ thể người như một tổ chức, một cộng đồng… mà Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng là những cá nhân trong tổ chức, cộng đồng đó. Từ mối quan hệ này, truyện nhằm khuyên nhủ, răn dạy con người điều gì?

Từ quan hệ không thể tách rời giữa các nhân vật – bộ phận cơ thể người, truyện đã khuyên nhủ, răn dạy ta bài học:

– Mỗi cá nhân không thể tồn tại tách biệt khỏi mối quan hệ với cộng đồng. Mỗi cộng đồng đều có tổ chức, mối quan hệ liên đới chặt chẽ, tự quy định chức năng thích hợp.

– Sống trong cộng đồng cần có tinh thần, mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người.

LUYỆN TẬP

1. Nhắc lại định nghĩa truyện ngụ ngôn và tên gọi những truyện ngụ ngôn đã học.

Trả lời:

– Định nghĩa: Truyện ngụ ngôn là loại truyện kể, bằng văn xuôi hoặc văn vần, mượn chuyện về loài vật, đồ vật hoặc chính con người để nói bóng gió, kín đáo chuyện con người, nhằm khuyên nhủ, răn dạy con người bài học nào đó.

– Những truyện ngụ ngôn đã học:

+ Ếch ngồi đáy giếng

+ Thầy bói xem voi

+ Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng.

Tóm tắt

Cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai so bì với lão Miệng chỉ ăn không làm nên bàn nhau không làm gì để lão Miệng không có gì ăn. Nhưng mấy ngày sau cả thảy đều mệt mỏi rã rời vì lão Miệng không ăn thì tất cả đều bị tê liệt, công việc lão Miệng là nhai thức ăn để tiếp sức lực. Nhận ra sai lầm, Chân, Tay, Tai, Mắt đến xin lỗi và cho lão Miệng ăn và trở lại khỏe mạnh. Từ đó họ sống hòa thuận với nhau.

Bố cục

Bố cục: 3 đoạn

– Đoạn 1 (Từ đầu … đến “cả bọn kéo nhau về”): Cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai quyết định chống lại lão Miệng.

– Đoạn 2 (Tiếp theo … đến “đành họp nhau lại để bàn”): Hậu quả của việc so bì, ganh tị.

– Đoạn 3 (Còn lại): Cách sửa chữa hậu quả.

Nội dung chính

Trong một tập thể, mỗi thành viên không thể sống tách biệt mà phải biết nương tựa, gắn bó với nhau để cùng tồn tại, do đó phải biết hợp tác với nhau và tôn trọng công sức của nhau.

Bài soạn “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” số 2

Bài soạn “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” số 6

Bài soạn “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” số 2

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1. Về khái niệm truyện ngụ ngôn (xem mục 1.1. Bài 10).

2. Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng là truyện ngụ ngôn nhân hoá các bộ phận trên thân thể con người. Truyện mượn các bộ phận của cơ thể người để nói về vị trí quan trọng riêng của mỗi con người trong cộng đồng của mình.

II – HƯỚNG DẪN ĐỌC – HlỂU VĂN BẢN

1. Cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai so bì với lão Miệng vì: họ nhận thấy họ phải “làm việc mệt nhọc quanh năm, còn lão Miệng chẳng làm gì cả, chỉ ngồi ăn không”.

Lập luận của họ xuất phát từ biểu hiện bề ngoài: Mắt phải nhìn, Tay phải làm, Chân phải đi, Tai phải nghe… Tất cả dường như đều phải phục vụ cho Miệng, còn Miệng chỉ việc hưởng thụ, chẳng phải làm gì.

2. Truyện mượn các bộ phận của cơ thể người để nói chuyện con người. Có thể ví cơ thể người như một tổ chức, một cộng đồng,… mà Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng là những cá nhân trong tổ chức, cộng đồng đó. Từ mối quan hệ này, truyện nhằm khuyên nhủ con người:

– Mỗi cá nhân không thể tồn tại nếu tách khỏi mối quan hệ mật thiết với cộng đồng. Mỗi cộng đồng đều có tổ chức, mối quan hệ liên đới chặt chẽ, tự quy định chức năng thích hợp.

– Sống trong cộng đồng, cần có tinh thần “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”, và nói như nhà thơ Tố Hữu:

Một ngôi sao chẳng sáng đêm

Một bông lúa chín chẳng nên mùa vàng

III – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

Xem lại định nghĩa truyện ngụ ngôn trong bài 10, và nhắc lại tên các truyện đã học: Êch ngồi đáy giếng; Thầy bói xem voi; Đeo nhạc cho mèo; Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng.

IV – THAM KHẢO

Là những ẩn dụ có tính chất truyện, phần cốt truyện tưởng tượng ra chỉ là phương tiện, phần ý niệm rút ra từ cốt truyện đó mới là mục đích. Không nhất thiết sử dụng yếu tố thần kì, nếu có cũng chỉ là nhằm giúp ta có thể diễn đạt một cách sinh động những khái niệm khô khan. Cùng với tục ngữ, ngụ ngôn Việt Nam là pho triết lí dân gian độc đáo. Xét một hiện tượng trong cuộc sống mà chưa nắm được toàn diện thì chưa thể gọi là hiểu biết sự vật đó (Thầy bói xem voi), hành động trái với quy luật phát triển của sự vật thì nhất định thất bại (ẤTớ lúa lên), cần phải có quan điểm biện chứng về sự vận động của sự vật (ớttg vua và con khỉ) v.v… Là túi khôn của nhân dân, truyện ngụ ngôn của nhiều dân tộc nước ta đã để lại những tác phẩm nổi tiếng về trí thông minh của nhũng con người bé nhỏ (Trí khôn để ở nhà…).

Bài soạn “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” số 5

Bài soạn “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” số 6

I. Về thể loại

Văn bản Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng thuộc thể loại truyện ngụ ngôn. Truyện ngụ ngôn thường mượn những loài vật, đồ vật hoặc chính con người để nói bóng gió, kín đáo về chuyện con người, nhằm khuyên nhủ, răn dạy con người ta bài học nào đó trong cuộc sống.

Truyện ngụ ngôn đã ra đời từ rất lâu. Từ thời cổ đại đã có Ê-dốp – một nhà thơ của Hi Lạp chuyên sáng tác truyện ngụ ngôn bằng thơ. Sau này có La Phông-ten cũng là một tác giả ngụ ngôn nổi tiếng.

II. Tóm tắt

Truyện kể về nhân vật cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai vì ghen tỵ với lão Miệng chỉ ăn không mà không làm gì cả nên đã bàn nhau để mặc cho lão Miệng, không cho lão ăn gì nữa. Mặc cho lão Miệng vô cùng ngạc nhiên, sửng sốt, cả bọn sau khi thông báo xong kéo nhau ra về.

Một ngày, hai ngày, ba ngày,… cả bọn đã cảm thấy mệt mỏi rã rời, không ai làm nổi việc gì nữa. Cho đến ngày thứ 7, không ai có thể chịu nổi nữa. Bác Tai là người đầu tiên phát hiện ra sai lầm của vấn đề, bác phân tích rõ đúng sai và rủ cả bọn đến xin lỗi lão Miệng, cho lão ăn như thường. Miệng ăn xong, cả bọn đều cảm thấy khỏe khoắn trở lại. Và chúng nhận ra rằng, lão Miệng tuy thế nhưng lão cũng có công việc của lão, một công việc rất quan trọng, liên quân đến tính mạng của cả bọn. Thế là từ đó lão Miệng, cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai sống hòa thuận với nhau, không ai ghen tỵ ai.

III. Bố cục

Văn bản Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng có thể được chia thành 3 đoạn:

IV. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai so bì với lão Miệng là vì theo những lập luận của họ: Mắt phải nhìn, Tay phải làm, Chân phải đi, Tai phải nghe ngóng. Tất cả đều phải phục vụ cho Miệng, và theo họ, Miệng không phải làm gì, chỉ việc hưởng thụ.

Câu 2:

Truyện mượn các bộ phận trên cơ thể người để nói chuyện con người. Có thể ví cơ thể người giống như một tổ chức, một cộng đồng, mà Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng chính là những cá nhân trong tổ chức, cộng đồng đó. Từ mối quan hệ này, truyện khuyên nhủ con người:

Bài soạn “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” số 4

Bài soạn “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” số 5

A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

Truyện ngụ ngôn: là thể loại văn xuôi nó có ý nghĩa giáo dục sâu sắc tạo cho con người nền tảng và những bài học kinh nghiệm đáng quý trong cuộc sống này, cần có những câu chuyện như vậy để làm thức tỉnh những sai lệch của con người.

Ý nghĩa: Từ câu chuyện của Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng, truyện nêu ra bài học: Trong một tập thể, mỗi thành viên không thể sống tách biệt mà phải nương tựa vào nhau, gắn bó với nhau để cùng tồn tại; do đó phải biết hợp tác với nhau và tôn trọng công sức của nhau.

B. BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI

Câu 1: (Trang 116 – SGK Ngữ văn 6 tập 1) Vì sao cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai, so bì với lão Miệng?

Bài soạn “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” số 4

Bài soạn “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” số 1

Bài soạn “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” số 4

I. Đôi nét về tác phẩm: Chân, tay, tai, mắt, miệng

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (Trang 116 sgk ngữ văn tập 1)

Cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay, bác Tai so bì với lão Miệng vì:

– Họ nhận thấy họ phải làm việc nhọc nhằn quanh năm, còn lão Miệng thì chẳng làm gì, chỉ ngồi ăn không

Câu 2 (Trang 116 sgk ngữ văn 6 tập 1)

Truyện mượn các bộ phận của cơ thể người để nói chuyện con người:

+ Có thể coi cả cơ thể như một tổ chức, cộng đồng, các bộ phận chính là từng cá thể riêng lẻ trong tổ chức, cộng đồng.

– Định nghĩa truyện ngụ ngôn: Xem chú thích (*) SGK – trang 100.

– Các truyện ngụ ngôn đã học: Ếch ngồi đáy giếng; Thầy bói xem voi; Đeo nhạc cho mèo; Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng.

Đăng bởi: Sỹ Nguyễn Văn

Từ khoá: 6 Bài soạn “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” lớp 6 hay nhất

6 Bài Soạn “Hội Thoại” (Tiếp Theo) Lớp 8 Hay Nhất

Hội thoại là cách thức giao tiếp, trò chuyện từ hai người trở lên nói về một vấn đề nào đó. Hội thoại còn được gọi là giao tiếp hai chiều. Có hai thể loại hội thoại mà các em cần nắm: Hội thoại trong giao tiếp sinh hoạt hằng ngày và hội thoại trong văn học. Chương trình Ngữ văn 8 có 2 tiết học về Hội thoại. Để tìm hiểu kĩ hơn về hội thoại, mời các bạn tham khảo một số bài soạn văn “Hội thoại” (tiếp theo) hay nhất mà chúng mình đã tổng hợp trong bài viết sau đây.

Bài soạn “Hội thoại” (tiếp theo) số 6

I. LƯỢT LỜI TRONG HỘI THOẠI:

1. Trong đoạn hội thoại đó chú bé Hồng nói 2 lượt, người cô của chú bé Hồng nói 6 lượt.

2. Trong đoạn hội thoại,đáng lẽ chú bé Hồng phải nói thêm 2 lượt nữa.

-Sự im lặng của chú bé Hồng thể hiện sự nhẫn nhịn,chịu đựng nỗi đau và cố gắng bỏ ngoài tai những lời người cô của cậu bé nói.

3. Hồng không cắt lời người cô khi bà nói những điều Hồng không muốn nghe vì Hồng là người dưới phải lễ phép

II. LUYỆN TẬP:

Câu 1. Tính cách nhân vật:

+ Cai lệ: cáo mượn oai hùm, hống hách, không coi ai ra gì

+ Người nhà lí trưởng: xu nịnh,khúm núm đối với cai lệ nhưng lên mặt với chị Dậu.

+ Anh Dậu: nhát gan ngại va chạm.

+ Chị Dậu: người phụ nữ hế mực yêu gia đình nhưng rất mạnh mẽ.Khi cần thiết,tính cách chị Dậu trở nên dứt khoát,mạnh mẽ.

Câu 2.

a. Sự chủ động tham gia cuộc thoại của chị Dậu và cái Tí phát triển ngược nhau:

b. Tác giả miêu tả diễn biến cuộc thoại như vậy đã phù hợp với tâm lí nhân vật. Vì ban đầu cái Tí chưa biết chuyện chị Dậu bán nó cho nhà Nghị Quế nên nó vẫn hồn nhiên hỏi han,quan tâm mẹ. nhưng ròi biết chuyện thì không chấp nhận, khóc lóc cầu xin mẹ giữ lại mình. Còn chị Dậu ban đầu im lặng vì đau lòng tột cùng nhưng vẫn cố phân tích thiệt hơn, an ủi, thuyết phục cái Tí.

c. Việc tác giả tô đậm sự hồn nhiên và hiết thảo của cái Tí qua phần đầu cuộc thoại làm tăng thêm kịch tính cho câu chuyện: những câu nói quan tâm hồn nhiên của cái Tí được khắc sâu vào lòng chị Dậu nỗi đau xót và bất lực; tình yêu thương cái Tí của chị Dậu là vô bờ,chị không muốn rời xa con của mình.

Câu 3. Sự im lặng của nhân vật tôi biểu thị:

+ Nhân vật tôi rất ngạc nhiên khi phát hiện ra tình cảm của em gái- đó là điều ngày thường nhân vật tôi không cảm nhận thấy.

+ Nhận vật tôi cảm thấy hổ thẹn khi trước đó nhân vật tôi toàn chỉ khi hiểu nhầm em gái.

Câu 4. Nhận xét phương Tây “Im lặng là vàng” và nhận xét của nhà thơ Tố Hữu đúng phải phụ thuộc vào thời điểm hoàn cảnh của từng người:

– Trong trường hợp việc nói đem lại những điều không hay,tiêu cực,dễ gây bất hòa thì lúc đó cần giữ im lặng để giữ được tình bạn,tình đoàn kết,…lấy dĩa hòa vi quý làm nòng cốt.

– Trong trường hợp cần nói lên sự thật,dụt dè,nhút nhát không dám dùng tiếng nói để bảo vệ lẽ phải thì lúc đó im lặng là tội lỗi.

Ghi nhớ:

Trong hội thoại, ai cũng được nói. Mỗi lần có một người tham gia hội thoại nói được gọi là một lượt lời.

Để giữ lịch sự cần tôn trọng lượt lời của người khác, tránh nói tranh lượt lời, cắt lời hoặc chêm vào lời người khác.

Nhiều khi im lặng khi đến lượt lời của mình cũng là cách biểu thị thái độ.

Bài soạn “Hội thoại” (tiếp theo) số 5

Bài soạn “Hội thoại” (tiếp theo) số 6

Kiến thức cần nắm vững

Câu 1 trang 102 SGK văn 8 tập 2:

Trong cuộc đối thoại giữa bé Hồng và bà cô:

Câu 2 trang 102 SGK văn 8 tập 2:

Những lần Hồng được nói nhưng không nói: sau lượt lời 1, 3 của bà cô

Sự im lặng thể hiện thái độ bất bình trước những lời lẽ thiếu thiện chí của bà cô

Câu 3 trang 102 SGK văn 8 tập 2:

Hồng không cắt lời bà cô vì luôn phải cố gắng kìm nén để giữ thái độ lễ phép

II- Luyện tập

Tính cách nhân vật trong đoạn trích:

Câu 2 trang 103 SGK văn 8 tập 2:

c. Việc tác giả tô đậm sự hồn nhiên hiếu thảo của cái Tí qua phần đầu cuộc thoại làm tăng kịch tính của câu chuyện vì chị Dậu càng đau đớn khi phải gạt nước mắt bán đứa con gái ngoan hiền, hiếu thảo.

Câu 3 trang 107 SGK văn 8 tập 2:

Sự ngỡ ngàng của nhân vật “tôi” biểu thị:

Câu 4 trang 107 SGK văn 8 tập 2:

Bài soạn “Hội thoại” (tiếp theo) số 5

Bài soạn “Hội thoại” (tiếp theo) số 4

Bài soạn “Hội thoại” (tiếp theo) số 5

A- KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

I- LƯỢT LỜI TRONG HỘI THOẠI

Đọc lại đoạn miêu tả cuộc trò chuyện giữa nhân vật chú bé Hồng với người cô (đã dẫn ở bài Hội thoại trước). Trả lời các câu hỏi sau đây :

1. Trong cuộc thoại đó, mỗi nhân vật nói bao nhiêu lượt ?

2. Bao nhiêu lần lẽ ra Hồng được nói nhưng Hổng không nói ? Sự im lăng thể hiện thái độ của Hồng đối với những lời nói của người cô như thế nào?

3. Vì sao Hồng không cắt lời người cô khi bà nói những điều Hồng không muốn nghe ?

Trả lời:

1. Trong đoạn hội thoại ta thấy ngưòi cô nói 6 lượt, bé Hồng nói 2 lượt.

2. Có ba lần lẽ ra chú bé Hồng được nói nhưng chú không nói. Sự im lặng của bé Hồng thể hiện sự bất bình của Hồng với người cô.

3. Hồng không cắt lời người cô khi bà nói những điều Hồng không muốn nghe vì Hồng ý thức được rằng mình là cháu (thuộc vai dưới), không được phép xúc phạm cô

Câu 4*: Trang 107 sgk Ngữ văn 8 tập 2

Bài soạn “Hội thoại” (tiếp theo) số 3

Bài soạn “Hội thoại” (tiếp theo) số 4

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1. Lượt lời là gì ?

Trong một cuộc thoại, chẳng hạn cuộc thoại gồm hai người, mỗi người có thể được nói nhiều lần. Lúc này, người này là người nói, người kia là người nghe. Lúc sau, lại có sự đổi lại, người này là người nghe, người kia là người nói. Cuộc hội thoại có thể diễn ra bằng nhiều lần nói – nghe, nghe – nói như vậy. Mỗi lần nói như vậy được gọi là một lượt lời.

Vậy, một lượt lời là một lần có một người tham dự hội thoại nói.

2. Lưu ý

– Cần phân biệt người chính thức tham dự hội thoại với người không chính thức. Người không chính thức là người tình cờ có mặt, người quan sát, hoặc người không đủ tư cách,… Trong cuộc hội thoại, chỉ có người đủ tư cách mới có quyền được nói. Điều này có nghĩa là chỉ người chính thức mới có được lượt lời. Người dự thính sẽ không có lượt lời ấy.

– Lượt lời cần phải được luân phiên đúng lúc. Nếu đang ở vị trí người nghe mà nghe chưa hết đã nói cắt ngang lượt lời của người khác sẽ bị coi là cướp lời, cắt lời. Cướp lời, cắt lời là một hành động kém văn hoá, thiếu tôn trọng người khác.

– Khi nói chuyện với người ở cương vị xã hội cao, người trên vai thì nhiều lúc, người dưới vai phải biết nhường lời. Việc nhường lời ở đây được coi là một biểu hiện của hành động lịch sự, có văn hoá.

– Trong khi giao tiếp, những người tham dự cần phải biết tiếp lời lẫn nhau. Không nên để cuộc giao tiếp ngừng lại quá lâu mà chưa có ai nói, hoặc ngược lại lượt lời của người này chưa xong, người khác đã cướp lời. Việc luân phiên lượt lời cần diễn ra sao cho thật nhịp nhàng để cuộc giao tiếp diễn ra liên tục và tự nhiên.

II – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

Câu 1. Qua cách miêu tả cuộc thoại giữa các nhân vật cai lệ, người nhà lí trưởng, chị Dậu và anh Dậu trong Tức nước vỡ bờ của Ngô Tất Tố, các em thấy tính cách của nhân vật được thể hiện qua lượt lời của các nhân vật như sau :

– Cai lệ hống hách, luôn ra oai. Ví dụ :

+ Thằng kia ! Ông tưởng mày chết đêm qua, còn sống đấy à ? Nộp tiền sưu mau !

+ Mày định nói cho cha mày nghe đấy à ? Sưu của nhà nước mà dám mở mồm xin khất !

– Người nhà lí trưởng nịnh bợ, khúm núm đối với cai lệ nhưng lên mặt với chị Dậu. Ví dụ :

+ Anh ta lại sắp phải gió như đêm qua đấy !

+ Chị khất tiền sưu đến chiều mai phải không ? Đây ! Chị hãy nói với ông cai, để ông ấy ra đình kêu với quan cho !….

– Chị Dậu là người yêu thương chồng con nên biết nín nhịn, cam chịu nhưng khi cần thiết, tính cách của chị lại có thể trở nên hết sức dứt khoát, mạnh mẽ và quyết liệt. Ví dụ :

+ Cháu van ông, nhà cháu vừa mới tỉnh được một lúc, ông tha cho !

+ Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ !

+ Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem !

– Anh Dậu luôn sợ sệt, ngại va chạm, né tránh việc xô xát với người khác, nhất là kẻ có “máu mặt”. Ví dụ :

U nó không dược thế! Người ta đánh mình không sao, mình đánh người ta thì mình phải tù, phải tội.

Câu 2. Các em có thể thấy phần trích Tắt đèn của Ngô Tất Tố có những nội dung chính sau đây :

a) Sự chủ động tham gia hội thoại của chị Dậu và cái Tí đi ngược chiều nhau.

– Khi thấy mẹ về, cái Tí vồn vã bắt chuyện mẹ, sốt sắng hỏi chuyện mẹ về việc của bố, hỏi thăm mẹ về việc bị cai lệ đánh. Nhưng lúc đó, trong tâm trạng buồn chán vì đã bán cái Tí và sắp phải đưa con sang nhà Nghị Quế, chị Dậu không muốn bắt chuyện với cái Tí và chị giữ thái độ “không nói gì” với con.

– Nhung khi biết được việc mẹ bán mình cho nhà Nghị Quế, cái Tí chủ yếu là khóc lóc và tỏ lời van xin mẹ cho mình được ở nhà với thằng Dần, với cái Tỉu. Trong khi đó chị Dậu là tìm hết lời này đến lời khác để an ủi, vỗ về để cái Tí nghe lời mình sang ở nhà Nghị Quế.

b) Việc miêu tả diễn biến cuộc thoại như vậy là phù hợp với diễn biến của từng trạng thái nhân vật trong tác phẩm.

c) Sự hồn nhiên và hiếu thảo của cái Tí qua phần đầu cuộc thoại đã làm tăng kịch tính của câu chuyện :

– Cái Tí càng hồn nhiên và hiếu thảo bao nhiêu thì sự đau xót trong lòng người mẹ – chị Dậu – càng tăng lên bấy nhiêu.

– Cái Tí càng hồn nhiên và hiếu thảo bao nhiêu thì lòng yếu con, thương con, không muốn rời xa con càng tăng lên bấy nhiêu.

Câu 3. Sự im lặng của nhân vật “tôi” trong câu chuyện Bức tranh của em gái tôi (SGK Ngữ văn 6, tập hai) biểu thị :

– Sự ngỡ ngàng, bất ngờ của nhân vật “tôi” trước cái nhìn đầy yêu thương của người em gái đối với mình. Đây là điều thường ngày nhân vật “tôi” không nhận ra được.

– Sự xấu hổ đến không dám nói thành lời khi thấy mình chỉ nhận ra toàn cái xấu của em gái, trong khi đó người em lại nhận ra biết bao điều tốt đẹp của mình.

Câu 4. Việc im lặng hay cất tiếng nói thành lời tuỳ thuộc vào thời điểm và hoàn cảnh của từng người.

– Nếu việc nói chỉ đem lại cái tiêu cực, cái bất lợi thì lúc ấy Im lặng là vàng. Im lặng lúc đó là giữ gìn được tình bạn, tình đoàn kết ; im lặng lúc đó là tránh được to tiếng, tránh được điều qua tiếng lại không cần thiết…

– Nhưng nếu có lúc đáng nói mà không nói, phải nói mà không dám nói vì sợ sệt, vì sự cầu an thì lúc đó chúng ta lại cảm thấy Và dại khờ là những lũ người câm.

Bài soạn “Hội thoại” (tiếp theo) số 2

Bài soạn “Hội thoại” (tiếp theo) số 3

Phần I: LƯỢT LỜI TRONG HỘI THOẠI

Đọc lại đoạn miêu tả cuộc trò chuyện giữa nhân vật chú bé Hồng với người cô (đã dẫn ở tr. 92 – 93 về hội thoại). Trả lời các câu hỏi sau đây:

Câu 1. Trong cuộc thoại đó, mỗi nhân vật nói bao nhiêu lượt?

Trong cuộc hội thoại số lượt lời của chú bé Hồng (2 lần) và người cô (5 lần).

Câu 2. Bao nhiêu lần lẽ ra Hồng được nói nhưng Hồng không nói? Sự im lặng thể hiện thái độ của Hồng đối với những lời nói của người cô như thế nào?

Trong đoạn thoại, chú bé Hồng đáng lẽ được nói thêm hai lần nhưng cậu im lặng không nói. Sự im lặng của chú bé Hồng thể hiện thái độ rất bất bình của cậu đối với người cô.

Câu 3. Vì sao Hồng không cắt lời người cô khi bà nói những điều Hồng không muốn nghe?

Hồng không cắt lời cô khi bà nói những điều mà cậu không muốn nghe vì cậu ý thức được vai nói của mình (vai dưới, không được xúc phạm hay thốt ra những lời bất kính với người trên).

Phần II: LUYỆN TẬP

Câu 1 (SGK trang 102, Ngữ Văn 8, tập 2)

Qua cách miêu tả cuộc thoại giữa các nhân vật cai lệ, người nhà lí trưởng, chị Dậu và anh Dậu trong đoạn trích Tức nước vỡ bờ (Ngữ văn 8, tập 1, tr.28), em thấy tính cách của mỗi nhân vật được thể hiện như thế nào?

– Trong cuộc thoại, người nói nhiều nhất là cai lệ và chị Dậu; người nhà lí trưởng nói ít hơn; anh Dậu chỉ nói với chị Dậu sau khi cuộc xung đột giữa vợ anh và bọn cai lệ đã kết thúc.

– Trong cuộc thoại này, nhân vật cai lệ có lần đã cắt lời người khác trong khi giao tiếp.

– Xét về vai xã hội: Chị Dậu từ vai dưới (xưng cháu, gọi cai lệ là ông) chuyển lên vai ngang bằng, có ý kháng cự (xưng tao, gọi cai lệ là mày); giọng cai lệ hống hách, cửa quyền (vai của những kẻ nha dịch trong làng xã ngày xưa); giọng của người nhà lí trưởng có vẻ nhẹ nhàng, dè dặt hơn.

Cách xưng hô của các nhân vật cũng thể hiện rất rõ tính cách của các nhân vật: chị Dậu đảm đang, mạnh mẽ; cai lệ hung hăng, ngạo mạn khinh người,…

Câu 2. Đọc đoạn trích (trang 103, 104, 105, 106 SGK Ngữ văn 8 tập 2) và trả lời câu hỏi:

a) Sự chủ động tham gia cuộc thoại của chị Dậu với cái Tí phát triển ngược chiều nhau như thế nào?

b) Tác giả miêu tả diễn biến cuộc thoại như thế có hượp với tâm lí nhân vật không? Vì sao?

c) Việc tác giả tô đậm sự hồn nhiên và hiếu thảo của cái Tí qua phần đầu cuộc thoại làm tăng kịch tính của câu chuyện như thế nào?

a) Trong đoạn thoại, lúc đầu, Cái Tí nói rất nhiều (bằng giọng hồn nhiên) còn chị Dậu chỉ im lặng. Nhưng sau đó, cái Tí nói ít hẳn đi, ngược lại chị Dậu lại nói nhiều hơn.

b) Cách miêu tả của nhà văn như vậy là rất phù hợp với sự phát triển tính cách của các nhân vật: Cái Tí, khi chưa biết mình bị bán, nó nói chuyện rất hồn nhiên, vô tư nhưng sau đó, khi biết mình bị bán, nó sợ hãi đau buồn và nói ít hẳn đi. Trong khi đó, lúc đầu, chị Dậu vì bị buộc phải bán con lại sắp phải thông báo tin dữ cho con nên chịu chỉ im lặng, lúc sau khi đã nói ra sự thật, chị phải nói nhiều để vừa an ủi, vừa thuyết phục hai đứa con nghe theo lời mình.

c) Việc tô đâm sự hồn nhiên và hiếu thảo của cái Tí khiến cho bi kịch của câu chuyện nhà chị Dậu càng tăng thêm: chị Dậu thì càng xót xa hơn khi phải bán đi đứa con vừa đảm đang lại vừa ngoan ngoãn. Trong khi đó, nỗi bất hạnh dồn xuống đầu cái Tí và sự tuyệt vọng của nó như càng nặng nề thêm.

Câu 3 (SGK trang 107, Ngữ Văn 8, tập 2)

Trong tranh, một chú bé đang ngồi nhìn ra cửa sổ, nơi bầu trời trong xanh. Mặt chú bé như toả ra một thứ ánh sáng rất lạ […]. Mẹ hồi hộp thì thầm vào tai tôi:

– Con có nhận ra con không?

Tôi giật sững người. Chẳng hiểu sao tôi phải bám chặt lấy tay mẹ. Thoạt tiên là sự ngỡ ngàng, rồi đến hãnh diện, sau đó là xấu hổ. Dưới mắt em tôi, tôi hoàn hảo đến thế kia ư? Tôi nhìn như thôi miên vào dòng chữ đề trên bức tranh: “Anh trai tôi”. Vậy mà dưới mắt tôi thì…

– Con đã nhận ra con chưa? – Mẹ vẫn hồi hộp.

Tôi không trả lời mẹ vì tôi muốn khóc quá. Bởi vì nếu nói được với mẹ, tôi sẽ nói rằng: “ Không phải con đâu. Đấy là tâm hồn và lòng nhân hậu của em con đấy”.

(Tạ Duy Anh, Bức tranh của em gái tôi)

Nhân vật “tôi” im lặng vì cậu ta vừa ngạc nhiên, vừa hãnh diện vì cách ứng xử của cô em gái nhưng cũng lại vừa xấu hổ vì sự không phải của mình trước đây.

Câu 4 *.(SGK trang 107, Ngữ Văn 8, tập 2)

Tục ngữ phương Tây có câu: Im lặng là vàng. Nhưng nhà thơ Tố Hữu lại viết:

Khóc là nhục. Rên, hèn. Van, yếu đuối

Và dại khờ là những lũ người câm

Trên đường đi như những bóng thầm

Nhận đau khổ mà gởi vào im lặng.

(Liên hiệp lại)

Theo em, mỗi nhận xét trên đúng trong những trường hợp nào?

Cả hai nhận xét trên đều đúng nhưng mỗi nhận xét đúng trong một hoàn cảnh khác nhau. Câu: Im lặng là vàng đúng trong trường hợp cần giữ bí mật, im lặng để tôn trọng người khác khi họ nói,… Còn sự im lặng trước những sai trái, bất công (theo lời thơ của Tố Hữu) thì đó là sự im lặng dại khờ, hèn nhát.

Bài soạn “Hội thoại” (tiếp theo) số 2

Bài soạn “Hội thoại” (tiếp theo) số 1

Bài soạn “Hội thoại” (tiếp theo) số 2

I. Lượt lời trong hội thoại

1. Trong cuộc hội thoại giữa bé Hồng và người cô, mỗi nhân vật:

+ Chú bé Hồng có 2 lượt lời.

+ Người bà cô có 6 lượt lời.

2. Trong đoạn thoại, chú bé Hồng đáng lẽ được nói thêm hai lần nhưng cậu im lặng không nói.

→ Sự im lặng để nén lại nỗi đau, nhẫn nhịn và cố gắng bỏ ngoài tai những lời người bà cô nói.

3. Hồng không cắt lời người bà cô vì cậu hiểu tâm địa độc ác của bà ta, cậu ý thức được vai nói của mình ( vai dưới không được xúc phạm hay tỏ ra bất kính với người trên.

II. Luyện tập

Bài 1 (trang 102 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

– Cai lệ là nhân vật hống hách, nhẫn tâm, luôn ra oai. Trong hội thoại hắn thường xuyên cướp lời người khác:

+ Thằng kia! Ông tưởng mày chết đêm qua, còn sống đấy à? Nộp sưu mau.

+ Mày định nói cho cha mày nghe đấy à? Sưu của nhà nước dám mở mồm ra khất!

– Người nhà lý trưởng nịnh bợ, khúm núm đối với cai lệ nhưng lên mặt với chị Dậu:

+ Anh ta lại sắp phải gió như đêm qua đấy!

+ Chị khất tiền sưu đến chiều mai phải không? Đấy! Chị hãy nói với ông cai để ông ấy ra đình kêu với quan cho.

– Anh Dậu nhân vật luôn sợ sệt, ngại va chạm, tránh xô xát với người khác:

+ U nó không được thế! Người ta đánh mình không sao, mình đánh người ta phải tù phải tội.

– Nhân vật chị Dậu thương yêu chồng con, đảm đang nhưng khi cần thiết, tính cách của chị trở nên dứt khoát, mạnh mẽ:

+ Cháu van ông, nhà cháu vừa mới tỉnh được một lúc, ông tha cho!

+ Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ!

+ Mày trói chồng bà đi, bà cho mày xem!

Bài 2 ( trang 107 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

a, Sự chủ động tham gia cuộc thoại của chị Dậu và cái Tí phát triển ngược nhau:

+ Cái Tí vồn vã, sốt sắng hỏi chuyện mẹ khi thấy mẹ về, hỏi thăm mẹ về việc bị cai lệ đánh.

+ Chị Dậu lúc đó giữ thái độ im lặng “không nói gì”, chị buồn chán khi phải bán cái Tí cho nhà Nghị Quế.

– Khi biết được việc mẹ bán mình cho nhà Nghị Quế cái Tí khóc lóc, van xin mẹ cho ở lại.

+ Chị Dậu đau thắt trong lòng như vẫn tìm lời an ủi, vỗ về để cái Tí nghe lời.

b, Tác giả miêu tả phù hợp với diễn biến tâm lý của nhân vật trong truyện. Vì ban đầu cái Tí chưa biết chuyện, nó hồn nhiên hỏi han, quan tâm mẹ, khi biết mình phải sang ở đợ nhà Nghị Quế nó kêu khóc, van xin.

Còn chị Dậu ban đầu im lặng vì nỗi đau phải bán đứa con dứt ruột đẻ ra, nhưng để cái Tí nghe lời chị phải nén nỗi đau, dỗ dành, thuyết phục con.

c, Sự hồn nhiên hiếu thảo của cái Tí qua phần đầu cuộc thoại làm tăng kịch tính của câu chuyện:

+ Những câu nói, sự quan tâm hồn nhiên của cái Tí lại khắc sâu vào lòng chị Dậu sự đau xót và bất lực.

+ Cái Tí hồn nhiên, hiếu thảo bao nhiêu thì lòng thương con, yêu con không muốn rời xa con lại tăng lên bấy nhiêu.

Bài 3 (trang 107 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

Sự “im lặng” của nhân vật tôi trong câu chuyện Bức tranh của em gái tôi ( sgk Ngữ văn 6, tập hai) biểu thị:

+ Sự ngỡ ngàng, bất ngờ của nhân vật “tôi” trong cái nhìn đầy yêu thương của người em gái đối với mình. Đây là điều thường ngày nhân vật tôi không nhận thấy

+ Sự xấu hổ vì trước đó nhân vật tôi toàn nhìn thấy điểm xấu của em gái, trong khi người em lại luôn yêu thương mình.

Bài 4 (trang 107 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

Việc im lặng hay cất tiếng nói thành lời phụ thuộc vào thời điểm hoàn cảnh của từng người.

– Nếu trong cuộc hội thoại việc nói chỉ đem lại những điều không hay, tiêu cực, dễ gây bất hòa thì lúc đó cần im lặng để giữ được tình bạn, tình đoàn kết, cần tránh to tiếng, tránh điều qua tiếng lại không cần thiết…

– Nhưng lúc cần nói sự thật, dụt dè, nhút nhát không dám dùng tiếng nói để bảo vệ sự thật thì khi đó im lặng trở thành tội lỗi.

Đăng bởi: Nguyễn Bình Nguyên

Từ khoá: 6 Bài soạn “Hội thoại” (tiếp theo) lớp 8 hay nhất

6 Bài Soạn “Ngắm Trăng” Của Hồ Chí Minh Lớp 8 Hay Nhất

Bài soạn “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh số 3

1. Tác giả:

2. Tác phẩm:

Câu 1: Trang 38 sgk ngữ văn 8 tập 2

Đọc kĩ phần phiên âm, phần dịch nghĩa và giải nghĩa chữ Hán để hiểu chính xác từng câu trong bài thơ. Học thuộc bản dịch thơ và nhận xét về các câu thơ dịch.

Câu 2: Trang 38 sgk ngữ văn 8 tập 2

Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng

Bài soạn “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh số 1

Bài soạn “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh số 3

* Bố cục: 2 phần

– phần 1: 2 câu đầu, hoàn cảnh ngắm trăng.

– phần 2: 2 câu cuối, sự giao hòa của con người với thiên nhiên.

Câu 1 (trang 38 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

Đối chiếu giữa các nguyên tác, bản dịch nghĩa, dịch thơ:

– Ở câu thơ thứ hai: cụm từ “nại nhược hà?” nghĩa là “biết làm thế nào?” diễn tả sự bối rối, xốn xang của nhân vật trữ tình.

+ Nếu dịch thơ cụm từ “nại nhược hà” thành “khó hững hờ” vô hình chung đã làm mất đi sự tinh tế trong cảm nhận.

→ Gây người đọc hiểu rằng nhân vật trữ tình quá “tỉnh táo”, thậm chí “hững hờ” trước cảnh đẹp tự nhiên.

– Ở hai câu thơ cuối, bản dịch thơ chưa thật đúng và sát với nguyên tác.

+ Hai câu cuối đăng đối trong từng câu, và giữa hai câu: chữ “song” mang lại giá trị cao. Chữ “nhân” đối với chữ “nguyệt” trong cùng một câu. Chữ “nguyệt” đối với “thi gia” ở cuối câu 4. Trong khi bản dịch thơ không đảm bảo được sự đăng đối này.

+ Trong nguyên tác, chữ “khán” nghĩa là ngắm, câu thơ thứ 2 dịch thành “nhòm” làm mất đi tính hàm súc, sự nhã nhặn của ý thơ.

Câu 2 (trang 39 sgk ngữ văn 8 tập 2):

Hoàn cảnh ngắm trăng thật đặc biệt của nhà thơ:

– Trong tù không rượu cũng không hoa nhằm nói lên cảm giác thiếu thốn hoa của người tù, nhớ tới rượu và hoa là muốn thưởng thức trọn vẹn cái đẹp.

→ Người ngắm trăng trong hoàn cảnh đặc biệt: chốn ngục tù thiếu thốn, tối tăm.

– Trước cảnh trăng đẹp Người bối rối, xốn xang “Đối thử lương tiêu nại nhược hà?”

+ Người yêu thiên nhiên say mê, rung cảm mãnh liệt trước vẻ đẹp của tạo hóa.

→ Tâm hồn người tù không bị vướng bận bởi những ách vật chất nặng nề, tâm hồn vẫn tự do, ung dung thưởng trăng đẹp.

Không chỉ là nhà cách mạng, chiến sĩ yêu nước mà Người còn là nghệ sĩ đích thực với những rung động của tâm hồn thi nhân nhạy cảm trước vẻ đẹp của tự nhiên.

Câu 3 (trang 38 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

Hai câu thơ cuối có sự đăng đối về mặt ý và hình thức:

+ Chữ “song” (cửa sổ) ở giữa cặp từ nhân/ nguyệt- minh nguyệt/ thi gia: người tù vượt qua song sắt, qua sự kìm kẹp để hướng ra ngoài ngắm trăng.

+ Trăng cũng nhòm qua khe cửa ngắm nhà thơ: sự giao hòa giữa trăng với người, người và trăng.

+ Biện pháp nhân hóa: trăng trở thành người bạn tri âm tri kỷ từ rất lâu của người tù.

→ Cả người và trăng đều chủ động gặp gỡ tự do, vượt qua những rào cản cửa sắt nhà tù. Cuộc ngắm trăng này trở nên thi vị khi hai tâm hồn tri kỉ tìm đến với nhau: người- trăng.

Câu 4 (trang 38 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

Hình ảnh Bác Hồ qua bài thơ:

+ Nổi bật tâm hồn thi sĩ lãng mạn, tinh tế.

+ Người tù- người chiến sĩ với sức mạnh tinh thần quả cảm, lạc quan.

+ Sau những vần thơ là tinh thần thép, tự do tự tại, phong thái ung dung vượt trên sự kìm kẹp của nhà tù.

→ Người tù cách mạng không màng tới những đói rét, xiềng xích… của nhà tù, trái lại, tâm hồn lãng mạn, thăng hoa cùng với vẻ đẹp của tự nhiên.

Câu 5 (trang 38 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

Nhà phê bình văn học Hoài Thanh nhận xét: “Thơ Bác đầy trăng”.

– Những bài thơ về trăng của Người: Trung thu, Cảnh khuya, Rằm tháng giêng, Tin thắng trận, Đêm thu…

– Trăng trong thơ của Bác có nhiều sắc vẻ, trạng thái khác nhau.

+ Trăng được cảm nhận ở hoàn cảnh ngục tù, hay giữa trời nước bao la, lúc bận việc quân, lúc thư nhàn…

+ Trăng hiện lên như tri âm, tri kỷ với Người

→ Người luôn hướng tới ánh sáng, sự tự do để đạt tới sự tự tại trong tâm hồn. Sự hòa quyện giữa Người với Trăng- tri kỷ- khiến cho thơ của Người luôn có sự hài hòa giữa chất cổ điển và hiện đại.

Bài soạn “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh số 1

Bài soạn “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh số 6

Bài soạn “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh số 1

Câu 1. Em hãy liệt kê những tiếng trong bản phiên âm chữ Hán của bài Vọng nguyệt đã đi vào từ vựng tiếng Việt một cách phổ biến. Ví dụ : vọng trong hi vọng, vọng phu, kính viễn vọng,…

Từ đó, em có nhận xét gì về thành phần từ gốc Hán trong tiếng Việt ?

Trả lời:

Liệt kê những tiếng trong bản phiên âm chữ Hán của bài Vọng nguyệt đã đi vào từ vựng tiếng Việt một cách phổ biến:

– Vọng : vọng phu, viễn vọng, vô vọng, hi vọng, ước vọng, thất vọng, khát vọng,…

– Nguyệt : nguyệt thực, nhật nguyệt, nguyệt san, nguyệt phí, bán nguyệt,…

– Ngục: ngục thất, lính ngục, hoả ngục, ngục tù, ngục hình, địa ngục,…

– Trung : trung tâm, trung thu, trung tuyến, trung trực, trung ương, trung đoạn, trung quân, trung trinh, trung thành, trung trực, trung thần, trung nghĩa, trung hiếu,…

– Vô : vô đạo đức, vô tình, vô ơn, vô cùng, vô tận, vô căn cứ, vô danh, vô lí, vô lối, vô cực, vô hồn, vô cảm,…

– Tửu : tửu quán, tửu lượng, tửu sắc,…

– Hoa : hương hoa, hoa hồng, ra hoa kết trái, hoa quả, nở hoa,…

– Đối : đối đáp, câu đối, đối xứng, đối chiếu, đối ngẫu, đối thoại, đối địch, đối tác, đối phương,…

Nhận xét : Đây là vấn đề khá phức tạp, chỉ yêu cầu các em nêu được một số điểm dễ nhận thấy như sau :

– Thành phần từ gốc Hán trong tiếng Việt chiếm một tỉ lệ khá lớn.

– Một số từ gốc Hán một âm tiết đã được tiếp nhận vào tiếng Việt như thành viên của lớp từ thuần Việt (hoa trong nở hoa, đối trong đôi trong từng câu).

– Một số tiếng gốc Hán có thể ghép với nhau (nguyệt phí, trung tuyến, vô căn cứ,..).

– Một số tiếng gốc Hán có thể ghép với một tiếng thuần Việt tạo thành từ mới (câu đối, lính ngục)

Câu 2. Đọc kĩ phần chú giải nghĩa từ Hán và phần dịch nghĩa của bài thơ ; từ đó, em hãy nêu nhận xét về các câu thơ dịch trong bản dịch thơ.

Nhận xét về các câu thơ trong bản dịch thơ.

Câu thứ nhất : “Ngục trung vô tửu diệc vồ hoa” được dịch là “Trong tù không rượu cũng không hoa”. Dịch như vậy là sát nghĩa.

Câu thứ hai : “Đối thử lương tiêu nại nhược hà ?” (có nghĩa là “Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào ?” ). Câu thơ này thể hiện tâm trạng xốn xang, bứt rứt của người nghệ sĩ trước cảnh trăng đẹp đêm nay. Câu thơ dịch “Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ” làm mất đi cái xốn xang, bối rối đó, do vậy, cũng làm giảm đi lòng yêu trăng sôi nổi của tác giả. Và dịch như vậy cũng không thật sát.

Câu thứ ba và câu thứ tư trong nguyên tác có kết câu đăng đối ; đối trong từng câu và đối hai câu với nhau. Với kết cấu này, hai câu thơ có hiệu quả nghệ thuật đáng kể.

Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,

Nguyệt tòng song khích khán thi gia.

có nghĩa là :

Người hướng ra trước song cửa sổ ngắm trăng sáng,

Trăng theo khe cửa, ngắm nhà thơ.

Hai câu thơ dịch :

Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,

Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.

đã làm giảm đi sự đăng đối tề chỉnh, cũng tức là làm giảm đi phần nào sức truyền cảm, nghệ thuật của bài thơ chừ Hán. Ngoài ra, câu thơ dịch sử dụng một từ chưa được nhã (nhòm) ; hơn nữa, hai câu thơ dịch còn làm giảm mất tính hàm súc của nguyên tác bởi sử dụng hai từ đồng nghĩa (nhòm, ngắm), nguyên tác chỉ một từ khán (ngắm), đặt tương ứng với nhau ỏ hai câu thơ.

Để phân tích tốt một bài thơ chữ Hán, nên cố gắng đối chiếu bản dịch với nguyên tác (dựa vào lời dịch nghĩa). Việc chỉ ra được những chỗ thành công và hạn chế của bản dịch so với nguyên tác sẽ giúp hiểu sâu bài thơ, nhiều khi đó chính là việc phân tích.

Câu 3. Có người nhận xét bài Ngắm trăng (Vọng nguyệt) là một cuộc vượt ngục về tinh thần của người tù cách mạng Hồ Chí Minh. Em hiểu điều đó như thế nào ? Hãy giải thích và chứng minh.

Bài Ngắm trăng (Vọng nguyệt) đúng là một cuộc vượt ngục về tinh thần của người tù cách mạng Hồ Chí Minh.

Bài thơ Ngắm trăng được viết trong nhà tù. Hồ Chí Minh ngắm trăng trong hoàn cảnh bị đoạ đày trong nhà tù vô cùng cực khổ. Người không có những điều kiện tối thiểu để thưởng trăng. Không những không có rượu, không có hoa để tận hưởng cảnh trăng đẹp (nhà nho xưa thường uống rượu ngắm hoa dưới trăng, lòng tràn đầy cảm hứng), mà còn không có cả tự do. Thế nhưng người tù cách mạng này đã thưởng trăng một cách trọn vẹn, đầy đủ, không hề vướng bận bởi sự thiếu thốn về vật chất và về tình trạng bị giam cầm. Hồ Chí Minh ung dung thưởng thức cảnh trăng đẹp với một tâm hồn rất nghệ sĩ. Như vậy, nhà tù chỉ có thể giam cầm được thân thể của Hồ Chí Minh nhưng không thể giam cầm được tinh thần của Người, đúng như Người đã viết: “Thân thể ở trong lao – Tinh thần ở ngoài lao”. Bài thơ cho thấy, tuy bị giam cầm nhưng trước cảnh trăng đẹp, tâm hồn người tù cách mạng Hồ Chí Minh đã vượt ra ngoài song cửa buồng giam để đến với vầng trăng sáng. Vì vậy, có người đã nói rất đúng rằng bài thơ là một cuộc vượt ngục về tinh thần của người tù cách mạng Hồ Chí Minh.

Câu 4. Hãy kể tên những bài thơ viết về trăng của Hồ Chí Minh mà em đã học (và đã đọc). Chép lại những câu viết về cảnh trăng và hãy nêu rõ, trăng trong mỗi bài có nét gì khác biệt.

Những bài thơ viết về trăng của Hồ Chí Minh mà em đã học ở lớp 7 và lớp 8 là : Ngắm trăng (Vọng nguyệt), Rằm tháng giêng (Nguyên tiêu), cảnh khuya.

Chép lại những câu viết về cảnh trăng và so sánh để thấy được một vài nét riêng của trăng ở từng bài. Chẳng hạn :

– Ngắm trăng : trăng được nhân hoá trở thành người bạn tri âm thân thiết, từ giữa bầu trời bao la đã theo khe cửa nhà lao đến với Hồ Chí Minh.

– Rằm tháng giêng : (Bản dịch của Xuân Thuỷ, Rằm xuân lồng lộng trăng soi- Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân – Giữa dòng bàn bạc việc quân – Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền). Trăng viên mãn tròn đầy, ánh trăng tràn ngập cả sông nước, đất trời bao la đêm xuân, tất cả đều đầy ắp sức sống mùa xuân.

– Cảnh khuya : Câu thơ viết về trăng : Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa. Trăng lồng bóng cây già trong rừng khuya, có vẻ đẹp lộng lẫy và đầy thơ mộng, mang sắc thái cổ điển.

Câu 5. Có ý kiến cho rằng : Hai bài Ngắm trăng ( Vọng nguyệt) và Tức cảnh Pác Bó của Hồ Chí Minh được sáng tác trong những hoàn cảnh khác nhau, có nội dung cụ thể khác nhau, nhưng lại có những nét giống nhau (về nội dung và hình thức nghệ thuật) .

Hãy chứng minh nhận xét đó.

Hai bài Tức cảnh Pác Bó và Ngắm trăng (Vọng nguyệt) của Hồ Chí Minh được sáng tác trong những hoàn cảnh khác nhau. Trong những ngày sống và làm việc rất gian khổ tại hang Cốc-Bó thuộc bản Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tính Cao Bằng (khi Người mới về nước – năm 1941), Người đã sáng tác bài Tức cảnh Pác Bó. Còn bài Ngắm trăng (Vọng nguyệt) được viết khi Người bị giam trong nhà tù của chính quyền Tưởng Giới Thạch (Trung Quốc) những năm 1942 – 1943. Đề tài của hai bài thơ cũng khác nhau. Nhưng hai bài thơ có những nét giống nhau về nội dung (đều toát lên tinh thần lạc quan, phong thái ung dung và tình yêu thiên nhiên sâu sắc của người chiến sĩ – thi sĩ Hồ Chí Minh) và hình thức nghệ thuật (sử dụng thành công thể thơ tứ tuyệt – tuy một bài là chừ Hán, một bài tiếng Việt – bút pháp giản dị, tự nhiên mà hàm súc).

Bài soạn “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh số 4

Bài soạn “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh số 6

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1. Tháng 8 – 1942, Hồ Chí Minh từ Pác Bó (Cao Bằng) bí mật lên đường sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ quốc tế cho cách mạng Việt Nam, nhưng khi đến gần thị trấn Túc Vinh thì Người bị chính quyền địa phương ở đây bắt giữ, giải đi khắp gần 30 nhà giam của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, bị đày đoạ hơn một năm trời. Thời gian này, Người đã viết Nhật kí trong tù bằng thơ chữ Hán, gồm 133 bài, phần lớn là thơ tứ tuyệt. Tập thơ thể hiện một tâm hồn cao đẹp, ý chí cách mạng kiên cường và nghệ thuật thi ca đặc sắc.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Về phần dịch thơ vẫn chưa sát nghĩa với phần phiên âm. Câu thơ thứ hai trong phần phiên âm có nghĩa là “Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào?”, nhưng trong phần dịch thơ thì lại là “Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ” đã làm mất đi cái bối rối, cái xốn xang của nhân vật trữ tình.

Hơn thế nữa, trong hai câu thơ cuối, bản dịch thơ cũng kém phần đăng đối so với phần phiên âm, đặc biệt là hai động từ “nhòm” và “ngắm” vốn là hai từ đồng nghĩa đã khiến cho lời dịch không đảm bảo được sự cô đúc của ý tứ và thể thơ.

Câu 2:

* Bác Hồ ngắm trăng trong hoàn cảnh rất đặc biệt: ở trong tù. Thông thường, người ta ngắm trăng vào những lúc thảnh thơi, thư thái. Chính hoàn cảnh ngắm trăng đặc biệt này đã thể hiện được tâm hồn cao đẹp của một người thi sĩ.

* Bác nói đến cảnh “Trong tù không rượu cũng không hoa” không có nghĩa là Bác đang than thở, cũng không phải đó là một lời phê phán. Câu thơ này có nghĩa là đứng trước một đêm trăng tuyệt đẹp ấy, Bác mong được thưởng thức trăng một cách trọn vẹn (thi nhân xưa, khi gặp cảnh trăng đẹp, thường đem rượu uống trước hoa để thưởng trăng, khi đó, tâm hồn sẽ trở nên thảnh thơi, thư thái) và thấy thật đáng tiếc khi không có rượu và hoa.

* Như vậy, qua hai câu thơ đầu, em thấy Bác là một người tù nhưng không hề vướng bận gì về vật chất và những gian nan mà mình đang phải chịu đựng. Bác vẫn ung dung, tự tại, vẫn thả hồn mình vào những vần thơ, vào thiên nhiên tuyệt đẹp.

Câu 3:

Hai câu thơ cuối của bài thơ chữ Hán có thể nói là đối nhau rất chỉnh:

Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt

Những từ chỉ người (nhân, thi gia) và các từ chỉ trăng ( nguyệt) ở hai đầu, còn ở giữa là cửa nhà tù (song). Thế nhưng, giữa người và trăng vẫn tìm được sự giao hòa với nhau. Chính nhờ cấu trúc đối này, tình cảm giữa người và trăng được thể hiện mãnh liệt hơn, càng làm nổi bật sự gắn bó thân thiết của một mối quan hệ mà từ lâu đã trở thành tri kỉ (Bác và trăng).

Câu 4:

Qua bài thơ, hình ảnh Bác Hồ hiện lên là một người chiến sĩ không chút bận tâm về gông cùm, về đói rét, về những gian nan, vất vả, hiểm nguy mà mình đang phải trải qua hằng ngày. Mà trước những khó khăn đó, Người vẫn ung dung, tự tại, vẫn thả hồn mình vào những vần thơ, vẫn cảm nhận được vẻ đẹp của trăng, của thiên nhiên.

Câu 5:

Nhà phê bình văn học Hoài Thanh nhận xét: “Thơ Bác đầy trăng”. Những bài thơ của Bác Hồ viết về trăng mà em biết là: Ngắm trăng, Cảnh khuya, Rằm tháng giêng,…

Cuộc ngắm trăng của Bác trong bài Ngắm trăng và trong những bài thơ khác mang những vẻ đẹp khác nhau. Nhưng dù là trăng được cảm nhận từ chốn lao tù hay giữa đất trời bao la tự do, dù là khi thư nhàn hay đang bận bịu trăm công nghìn việc, với tâm hồn luôn hướng tới cái đẹp, tới ánh sáng của Bác, bao giờ trăng cũng hiện lên giống như một người bạn tri âm, tri kỉ của Người.

Bài soạn “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh số 5

Câu 5 trang 38 – SGK Ngữ văn 8 tập 2: Nhà phê bình văn học Hoài Thanh nhận xét: “ Thơ Bác đầy trăng”. Hãy chép lại những bài thơ Bác Hồ viết về trăng mà em biết (chú ý ghi rõ thời điểm sáng tác mỗi bài). Cuộc “ngắm trăng” trong bài Vọng nguyệt và hình ảnh trăng được thể hiện trong các bài thơ khác của Bác có gì đáng chú ý?

“Thơ Bác đầy trăng”. Trăng trong thơ Bác mang nhiều vẻ khác nhau, được miêu tả ở các hoàn cảnh khác nhau. Nhưng tựu trung lại, dù trăng có được cảm nhận ở chốn lao tù hay giữa cảnh trời nước bao la, dù là đang lúc thư nhàn hay bận bịu trăm nghìn công việc, với tâm hồn hướng tới cái đẹp, tới ánh sáng của Bác, bao giờ trăng cũng hiện lên như một người tri âm tri kỉ.

Các bài thơ của Bác có hình ảnh trăng như Ngắm trăng, Đêm thu, Trung thu, …(Nhật kí trong tù), Rằm tháng giêng, Cảnh khuya, …

Bài soạn “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh số 5

Bài soạn “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh số 2

Bài soạn “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh số 5

I. Về tác giả, tác phẩm

1. Đôi nét về tác giả Hồ Chí Minh

– Hồ Chí Minh (1890- 1969), tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung

– Quê quán: làng Kim Liên (làng Sen), xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

– Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác

+ Là vị lãnh tụ kính yêu của nước Việt Nam

+ Sau 30 năm bôn ba nước ngoài, Bác trở về trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước

+ Không chỉ có sự nghiệp cách mạng, Người còn để lại một số di sản văn học quý giá, xứng đáng là một nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc.

– Phong cách sáng tác: Thơ Bác hay viết về thiên nhiên đất nước với tình yêu tha thiết, niềm tự hào, lời thơ nhẹ nhàng bay bổng lãng mạn.

2. Đôi nét về bài thơ Ngắm trăng

a. Hoàn cảnh sáng tác

– Ngắm Trăng là bài thơ số 20 trong tập thơ Nhật kí trong tù của Bác, sáng tác lúc Bác đang bị giam trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, Trung Quốc

b. Bố cục

– Phần 1: 2 câu đầu: Hoàn cảnh ngắm trăng của Bác

– Phần 2: 2 câu sau: Sự giao hòa đặc biệt giữa người tù thi sĩ và trăng

c. Giá trị nội dung

– Bài thơ thể hiện tình yêu thiên nhiên say mê và phong thái ung dung của Bác ngay cả trong cảnh tù đày.

d. Giá trị nghệ thuật

– Sử dụng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt giản dị

– Hình ảnh thơ trong sáng, đẹp đẽ

– Ngôn ngữ lãng mạn

– Màu sắc cổ điển và hiện đại song hành

Đăng bởi: Lợi Nguyễn Văn Tấn

Từ khoá: 6 Bài soạn “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh lớp 8 hay nhất

Soạn Bài Mẹ Tôi

– Đoạn 1: Từ đầu → vô cùng: Lí do viết thư.

– Đoạn 2: tiếp → thương yêu đó: Hình ảnh người mẹ trong tâm trạng của người cha.

– Đoạn 3: còn lại: Thái độ của người cha trước lỗi lầm của con.

Câu 1 (trang 11 ngữ văn 7 tập 1)

Nhan đề tác phẩm là Mẹ tôi gợi cho chúng ta hướng tiếp cận khác về tác phẩm

– Tác giả không trực tiếp trình bày những suy nghĩ của con về mẹ mà thể hiện dưới hình thức bức thư của bố viết cho con khi con phạm lỗi

→ Điều này tạo nên tác động tâm lý, một hiệu quả thẩm mĩ lớn lao

Câu 2 (trang 11 sgk ngữ văn 7 tập 1)

– Câu chuyện kể về việc En-ri-cô đã phạm lỗi “lúc cô giáo đến thăm, khi nói với mẹ… nhỡ thốt ra một lời nói thiếu lễ độ”

– Người bố khi phát hiện ra điều đó ông đã hết sức buồn bã và tức giận, điều này thể hiện qua:

+ Sự hỗn láo của con như nhát dao đâm vào tim bố

+ Bố không thể nén cơn tức giận đối với con

+ Thà bố không có con còn hơn thấy con bội bạc với mẹ

+ Bố không thể vui lòng đáp lại cái hôn của con được

Câu 3 (trang 12 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Người mẹ En-ri-cô hiện lên qua lời kể của người bố:

+ Thức suốt đêm, cúi mình trên chiếc nôi để trông chừng hơi thở hổn hển của con, quằn quại.

+ Người mẹ sẵn sàng bỏ hết một năm hạnh phúc để tránh cho con một giờ đau đớn

+ Người mẹ có thể ăn xin để nuôi con, có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con

⇒ Người mẹ En-ri-cô nhân hậu, hết lòng vì con, thậm chí có thể hi sinh cả tính mạng vì con

Câu 4 (Trang 12 sgk ngữ văn 7 tập 1)

En-ri-cô xúc động vô cùng khi đọc thư của bố, vì:

a, Bố gợi lại những kỉ niệm giữa mẹ và En-ri-cô

c, Thái độ kiên quyết và nghiêm khắc của bố

d, Vì những lời nói chân tình và sâu sắc của bố

Ngoài ra, còn vì En-ri-cô hối hận, xấu hổ trước lỗi lầm của mình

Câu 5 (Trang 12 skg ngữ văn 7 tập 1)

Người bố không trực tiếp nói với đứa con mà chọn cách viết thư:

– Người bố En-ri-cô muốn con phải đọc kĩ, suy ngẫm, tự rút ra bài học cho bản thân

– Đây cũng là cách giữ thể diện cho người bị phê bình

– Thể hiện đây là người bố tinh tế, rất tâm lí và sâu sắc

Bài 1 (trang 12 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Lựa chọn một đoạn tùy thích để học thuộc

Bài 2 (trang 12 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Hôm đó trời nắng dịu, gió nhẹ nhàng trên những tán lá. Nhưng nó sẽ là ngày tuyệt vời nếu tôi không có bài kiểm tra toán tệ hại tới vậy. Lỗi là ở tôi đã không chịu ôn bài. Bây giờ tôi buồn và lo lắng vô cùng nếu phải đối diện với mẹ. Ngày hôm đó khi ba mẹ ra khỏi nhà, tôi liền ngồi ngay vào bàn máy tình chứ nào có ngồi vào bàn học, bởi vì tôi cứ đinh ninh mình đã được điểm tốt hôm trước, cô sẽ không kiểm tra, thế mà… cô cho làm bài kiểm tra mười lăm phút.

Đứng trước cửa tôi bỗng nảy ra lời nói dối mẹ. Khi gặp mẹ, tôi lí nhí chào mẹ rồi rơm rớm nước mắt, đưa cho mẹ bài kiểm tra bị điểm kém “con đau tay nên viết không kịp”. Sau ngày hôm đó dường như mẹ tôi buồn rầu hơn, nấu cơm hay dọn dẹp nhà cửa đều không tập trung. Tôi đành phải thú nhận lỗi của mình bằng một lá thư để trong túi xách của mẹ. Cuối cùng thì mẹ cũng tha lỗi cho tôi, tôi nhận ra rằng, khi biết nhận lỗi và sửa sai, thứ bạn nhận lại còn nhiều hơn những gì đã đánh mất.

Cập nhật thông tin chi tiết về Top 6 Bài Soạn “Nước Đại Việt Ta” Của Nguyễn Trãi Lớp 8 Hay Nhất trên website Exas.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!