Xu Hướng 2/2024 # Soạn Sử 9 Bài 1: Liên Xô Và Các Nước Đông Âu Từ Năm 1945 Đến Giữa Những Năm 70 Của Thế Kỉ Xx Soạn Lịch Sử 9 Trang 8 # Top 11 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Soạn Sử 9 Bài 1: Liên Xô Và Các Nước Đông Âu Từ Năm 1945 Đến Giữa Những Năm 70 Của Thế Kỉ Xx Soạn Lịch Sử 9 Trang 8 được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Exas.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Giải Lịch sử 9 trang 8 giúp các em hiểu được công cuộc khôi phục kinh tế sau chiến tranh, công cuộc xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội. Soạn Lịch sử 9 bài 1 được trình bày rõ ràng, cẩn thận, dễ hiểu nhằm giúp học sinh nhanh chóng biết cách làm bài, đồng thời là tư liệu hữu ích giúp giáo viên thuận tiện trong việc hướng dẫn học sinh học tập.

1. Công cuộc khôi phục kinh tế sau chiến tranh (1945-1950)

*Tình hình Liên Xô sau Chiến tranh

– Khó khăn:

Chịu hậu quả nặng nề do Chiến tranh thế giới thứ hai gây ra.

Các nước đế quốc phát động “Chiến tranh lạnh” bao vây kinh tế, cô lập về chính trị… chống Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.

– Thuận lợi: Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Xô Viết, nhân dân Liên Xô đã lao động quên mình để xây dựng lại đất nước.

*Thành tựu:

Hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ tư, vượt mức trước thời hạn 9 tháng.

Đến năm 1950, sản xuất công nghiệp tăng 73% so với trước chiến tranh.

Sản xuất nông nghiệp cũng vượt mức trước chiến tranh.

Đời sống nhân dân được cải thiện.

Năm 1949, chế tạo thành công bom nguyên tử.

2. Tiếp tục công cuộc xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội (từ năm 1950 đến đầu những năm 70 của thế kỉ XX)

– Hoàn cảnh lịch sử:

Luôn bị các nước tư bản phương Tây chống phá về kinh tế, chính trị, quân sự.

Phải chịu chi phí lớn cho quốc phòng, để bảo vệ an ninh và thành quả của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

– Phương hướng chính của các kế hoạch lần thứ năm (1951 – 1955), lần thứ sáu (1956 – 1960) và kế hoạch 7 năm (1959 – 1965) là:

Tiếp tục ưu tiên phát triển công nghiệp nặng – nền tảng của nền kinh tế quốc dân.

Thực hiện thâm canh trong sản xuất nông nghiệp.

Đẩy mạnh tiến bộ khoa học – kĩ thuật.

Tăng cường sức mạnh quốc phòng của đất nước.

– Những thành tựu cơ bản:

+ Kinh tế: Liên Xô là cường quốc công nghiệp đứng hàng thứ hai trên thế giới (sau Mĩ). Giữa thập niên 70 chiếm gần 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới.

+ Khoa học-kĩ thuật: Chiếm lĩnh nhiều đỉnh cao của khoa học-kĩ thuật thế giới, đặc biệt ngành khoa học vũ trụ, mở đầu kỉ nguyên chinh phục vũ trụ cùa loài người.

Năm 1957, Liên Xô là nước đầu tiên phóng thành công vệ tinh nhân tạo lên khoảng không vũ trụ, mở đầu kỉ nguyên chinh phục vũ trụ của loài người.

Năm 1961, Liên Xô phóng con tàu “Phương Đông” đưa nhà du hành vũ trụ Gagarin lần đầu tiên bay vòng quanh Trái Đất.

(Sự ra đời của các nước dân chủ nhân dân Đông Âu)

– Hoàn cảnh lịch sử và quá trình ra đời của các nước dân chủ nhân dân Đông Âu: Những năm 1944-1945, lợi dụng thời cơ Hồng quân Liên Xô tiến quân truy kích quân đội phát xít Đức qua lãnh thổ Đông Âu, nhân dân và các lực lượng vũ trang các nước Đông Âu đã nổi dậy phối hợp với Hồng quân tiêu diệt bọn phát xít, giành chính quyền, thành lập các nước dân chủ nhân dân (từ cuối năm 1944 đến năm 1946).

Theo thỏa thuận của ba cường quốc Liên Xô, Mĩ, Anh:

– Liên Xô chiếm đóng khu vực phía đông nước Đức.

– Mĩ, Anh, Pháp chiếm đóng khu vực phía tây nước Đức.

– Hai nhà nước ở Đông Đức (thành lập 10-1949) và Tây Đức (thành lập 9-1949) chịu ảnh hưởng của hai cường quốc Mĩ và Liên Xô.

– Trong thời kì 1945-1949, các nước Đông Âu hoàn thành thắng lợi những nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân chủ nhân dân mà ngày nay thường gọi là cách mạng dân tộc dân chủ:

Xây dựng bộ máy chính quyền dân chủ nhân dân.

Tiến hành cải cách ruộng đất.

Quốc hữu hoá các xí nghiệp lớn của chủ tư bàn.

Ban hành các quyền tự do dân chủ.

– Những cơ sở để hình thành sự hợp tác về chính trị và kinh tế giữa Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu.

Đều do Đảng Cộng sản lãnh đạo, lấy chủ nghĩa Mác- Lê-nin làm nền tảng tư tưởng.

Đều có mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

– Với sự ra đời của Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV) năm 1949 và Tổ chức Hiệp ước Vác-sa-va (1955) đã hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa.

– Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV) ra đời nhằm đẩy mạnh sự hợp tác, giúp đỡ lần nhau giữa các nước xã hội chủ nghĩa và đánh dấu sự hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa.

– Tổ chức Hiệp ước Vác-sa-va: là liên minh mang tính chất phòng thủ về quân sự và chính trị của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, nhằm bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, góp phần to lớn trong việc duy trì nền hòa bình, an ninh của châu Âu và thế giới.

Công cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh ở Liên Xô diễn ra như thế nào?

Trả lời:

– Để tiến hành công cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, ngay từ đầu năm 1946, Đảng và nhà nước Xô Viết đã đề ra kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế đất nước với kế hoạch 5 năm lần thứ tư (1946-1950).

– Các tầng lớp nhân dân Liên Xô đã sôi nổi thi đua, lao động quên mình để thực hiện kế hoạch.

* Kết quả:

– Về kinh tế:

Hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ tư (1946-1950) trước thời hạn 9 tháng.

1950, sản xuất công nghiệp tăng 73%.

Hơn 6000 nhà máy được khôi phục và xây dựng.

Advertisement

Một số ngành sản xuất nông nghiệp vượt mức trước chiến tranh.

Đời sống nhân dân được cải thiện.

– Về khoa học-kĩ thuật: 1949, Liên Xô chế tạo thành công bom nguyên tử.

– Hãy nêu những thành tựu chủ yếu của Liên Xô trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội từ năm 1950 đến đầu những năm 70 của thế kỉ XX.

Trả lời:

Sản xuất công nghiệp bình quân hàng năm tăng 9,6%. Liên Xô đã trở thành cường quốc công nghiệp đứng thứ hai thế giới sau Mĩ, chiếm khoảng 20% sản lượng công nghiệp của toàn thế giới.

Khoa học-kĩ thuật:

– Năm 1957, Liên Xô là nước đầu tiên phóng thành công vệ tinh nhân tạo, mở đầu kỉ nguyên chinh phục vũ trụ của loài người.

– Năm 1961, Liên Xô phóng con tàu “Phương Đông” đưa nhà du hành vũ trụ Gagarin lần đầu tiên bay vòng quanh Trái Đất.

Hãy nêu những cơ sở hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa.

Gợi ý đáp án:

Hệ thống xã hội chủ nghĩa hình thành trên cơ sở:

– Cùng mục tiêu xây dựng Chủ nghĩa xã hội.

– Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

– Cùng chung hệ tư tưởng là chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Hãy trình bày mục đích ra đời và những thành tích của Hội đồng tương trợ kinh tế trong những năm 1951-1973.

Gợi ý đáp án:

– Mục đích: giúp đỡ, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các nước thành viên, hỗ trợ nhau trong nghiên cứu khoa học.

– Thành tựu:

+ Tốc độ tăng trưởng công nghiệp 10% /năm.

+ Thu nhập quốc dân (1950 – 1973) tăng 5,7 lần.

+ Liên Xô cho các nước trong khối vay 13 tỉ rúp, viện trợ không hoàn lại 20 tỉ rúp.

Soạn Bài Miêu Tả Nội Tâm Trong Văn Bản Tự Sự Soạn Văn 9 Tập 1 Bài 8 (Trang 117)

Soạn bài Miêu tả nội tâm trong văn bản tự sự

Hôm nay, chúng tôi muốn giới thiệu tài liệu Soạn văn 9: Miêu tả nội tâm trong văn bản tự sự, sẽ giúp học sinh nắm vững kiến thức về bài học trên.

1. Đọc lại đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, tr. 93 – 94 và thực hiện các yêu cầu:

a. Tìm những câu thơ tả cảnh và những câu thơ miêu tả tâm trạng của Thúy Kiều.

– Tả cảnh: “Bốn bề bát ngát xa trông/Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia”

– Tả tình: “Bẽ bàng mây sớm đèn khuya/Nửa tình, nửa cảnh như chia tấm lòng”, “Buồn trông cửa bể…”, “Buồn trông ngọn nước…”, “Buồn trông nội cỏ…”, “Buồn trông gió cuốn…”

b. Những câu thơ tả cảnh có mối quan hệ như thế nào với việc thể hiện nội tâm nhân vật:

– Những câu thơ tả cảnh có mối quan hệ mật thiết với việc thể hiện nội tâm nhân vật.

– Nguyễn Du đã sử dụng thủ pháp tả cảnh ngụ tình, từ việc khắc họa khung cảnh thiên nhiên để bộc lộ tâm trạng của Thúy Kiều.

c. Miêu tả nội tâm có tác dụng đối với việc khắc họa nhân vật trong văn bản tự sự:

– Khắc họa chân thực hình ảnh nhân vật trong văn bản tự sự.

– Qua đó thể hiện được chiều sâu tính cách của nhân vật.

2. Đọc đoạn văn trong SGK và nhận xét cách miêu tả nội tâm nhân vật của tác giả:

– Nam Cao đã thông qua việc miêu tả cử chỉ, hành động trên khuôn mặt của lão Hạc (mặt lão co rúm lại, vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra, cái đầu ngoẹo về một bên…) để bộc lộ được tâm trạng đau khổ, xót xa và ân hận với cậu Vàng.

– Người đọc có thể hình dung lão khóc lóc như một đứa trẻ khi phải rời xa người bạn mình yêu quý nhất.

Tổng kết:

– Miêu tả nội tâm trong văn bản tự sự là tái hiện những ý nghĩ, cảm xúc và diễn biến tâm trạng của nhân vật. Đó là biện pháp quan trọng để xây dựng nhân vật, làm cho nhân vật sinh động.

Tham Khảo Thêm:

 

Bài viết số 7 lớp 9 đề 7: Phân tích hình ảnh bếp lửa trong bài thơ Bếp lửa Dàn ý & 14 mẫu bài viết số 7 lớp 9 đề 7

– Người ta có thể miêu tả nội tâm trực tiếp bằng cách diễn tả những ý nghĩ, cảm xúc, tình cảm của nhân vật nhưng cũng có thể miêu tả nội tâm gián tiếp bằng cách miêu tả nét mặt, cử chỉ, trang phục… của nhân vật.

Câu 1. Thuật lại đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều, tr. 97 – 98 bằng văn xuôi, chú ý miêu tả nội tâm của nàng Kiều.

Gần nhà Kiều có một mụ mối đưa người viễn khách vào vấn danh. Khi hỏi tên thì được biết đó là Mã Giám Sinh, quê ở huyện Lâm Thanh, tuổi đã ngoài bốn mươi. Nhìn bề ngoài, Mã Giám Sinh ăn mặc chải chuốt, bảnh bao nhưng bản chất thì lại thô lỗ. Chẳng mấy chốc, Mã Giám Sinh đã bộc lộ đúng bản chất của một con buôn khi liên tục giục Kiều đến xem mặt, thử tài đàn hát. Kiều vô cùng đau đớn, xót xa khi lâm vào cảnh ngộ này. Mỗi bước đi đều tuôn lệ vì tủi nhục. Khi bà mối đưa giá ngàn vàng, Mã Giám Sinh còn mặc cả để mua Kiều với giá ngoài bốn trăm.

Câu 2. Hãy đóng vai nàng Kiều viết đoạn văn kể lại việc báo ân báo oán, trong đó bộc lộ trực tiếp tâm trạng của Kiều lúc gặp lại Hoạn Thư.

Nhờ có Từ Hải, tôi đã mời được Thúc Sinh đến để báo ân tình cứu mình thoát khỏi lầu xanh. Dù không thể nên nghĩa vợ chồng nhưng tôi vẫn muốn dùng chút quà để cảm tạ tấm lòng của Thúc Sinh. Ngược lại, Hoạn Thư – vợ của Thúc Sinh hết sức quý quái tinh ma nên tôi quyết tâm sẽ phải trừng trị. Hoạn Thư được lính áp giải xuống, khuôn mặt bộc lộ sự sợ hãi. Tôi cất tiếng chào “tiểu thư” như trước kia rồi bắt đầu kể lại tội trạng. Hoạn Thư lại dùng lí lẽ rằng đàn bà ghen tuông là chuyện bình thường và nhắc lại món nợ ân tình khi để cho tôi trốn khỏi nhà họ Hoạn. Điều đó khiến tôi vô cùng khó xử, không biết nên thẳng tay trừng trị hay tha thứ. Cuối cùng, tôi vẫn quyết định tha bổng cho Hoạn Thư.

Câu 3. Ghi lại tâm trạng của em sau khi để xảy ra một chuyện có lỗi đối với bạn.

Gợi ý:

– Hoàn cảnh diễn ra sự việc

– Diễn biến của sự việc

– Kết quả của sự việc

– Tâm trạng của em sau khi gây ra lỗi lầm với bạn: ân hận, buồn bã…

Ngày hôm qua, tôi đã làm một việc có lỗi với Nga – người bạn thân nhất của tôi. Trong giờ kiểm tra môn Toán, do chủ quan không ôn tập bài trước, tôi không làm được bài. Nga ngồi trước và cùng một đề với tôi. Nhân lúc thầy giáo không để ý tôi đã nhờ Nga nhắc bài. Nga luôn là một học sinh gương mẫu, ít khi cho bạn chép bài. Nhưng khi nhìn thấy khuôn mặt cầu cứu cùng ánh mặt tha thiết cuối tôi, có lẽ Nga đã mềm lòng. Nga cho tôi chép bài nhưng tôi cảm thấy bạn rất lo lắng. Thật không may, thầy giáo đã phát hiện ra. Thầy quyết định trừ năm mươi phần trăm số điểm của cả hai. Lúc đó, tôi nhìn thấy Nga đã bật khóc. Điều đó khiến tôi cảm thấy vô cùng có lỗi. Chính vì vậy, hôm nay tôi quyết định sẽ đến lớp xin lỗi Nga.

Hướng dẫn chuẩn bị bài:

Câu 1. Thuật lại đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều, tr. 97 – 98 bằng văn xuôi, chú ý miêu tả nội tâm của nàng Kiều.

Gần miền có một mụ mối đưa người viễn khách vào vấn danh. Hỏi tên ra mới biết đó là Mã Giám Sinh, quê ở huyện Lâm Thanh, tuổi đã ngoài bốn mươi. Nhìn vẻ bề ngoài, Mã Giám Sinh ăn mặc chải chuốt, bảnh bao nhưng bản chất thì lại thô lỗ, cộc cằn. Chẳng mấy chốc, Mã Giám Sinh đã bộc lộ đúng bản chất của một con buôn khi liên tục giục Kiều đến xem mặt, thử tài đàn hát. Kiều vô cùng đau đớn, xót xa khi phải rơi vào cảnh ngộ này. Mỗi bước đi đều tuôn lệ vì tủi nhục. Khi bà mối đưa giá ngàn vàng, Mã Giám Sinh còn mặc cả để mua Kiều với giá ngoài bốn trăm. Kiều xót xa khi trở thành một món hàng để người ta trả giá.

Câu 2. Hãy đóng vai nàng Kiều viết đoạn văn kể lại việc báo ân báo oán, trong đó bộc lộ trực tiếp tâm trạng của Kiều lúc gặp lại Hoạn Thư.

Từ Hải đã giúp tôi mời Thúc Sinh đến để báo ân tình cứu mình thoát khỏi lầu xanh. Dù không thể nên nghĩa vợ chồng nhưng tôi vẫn muốn dùng chút quà để cảm tạ tấm lòng của Thúc Sinh. Ngược lại, Hoạn Thư – vợ của Thúc Sinh hết sức quý quái tinh ma nên tôi quyết tâm sẽ phải trừng trị. Hoạn Thư được lính áp giải xuống, khuôn mặt bộc lộ sự sợ hãi. Tôi cất tiếng chào “tiểu thư” như trước kia rồi bắt đầu kể lại tội trạng. Hoạn Thư lại dùng lí lẽ rằng đàn bà ghen tuông là chuyện bình thường và nhắc lại món nợ ân tình khi để cho tôi trốn khỏi nhà họ Hoạn. Quả là những lời lẽ thuyết phục khiến cho tôi phải mềm lòng mà quyết định tha bổng cho Hoạn Thư.

Câu 3. Ghi lại tâm trạng của em sau khi để xảy ra một chuyện có lỗi đối với bạn.

Gợi ý:

Ai mà không có một người bạn vô cùng thân thiết trong cuộc đời của mình. Đối với tôi cũng vậy, người bạn thân nhất của tôi chính là Nga. Cả hai đã chơi thân với nhau từ khi còn học tiểu học cho đến tận bây giờ. Chúng tôi đã trải qua rất nhiều kỉ niệm vui buồn bên nhau.

Tôi vẫn còn nhớ mãi kỉ niệm vào năm lớp sáu. Lần ấy, tôi đã khiến Nga cảm thấy rất buồn. Trước ngày sinh nhật của bố Nga một tuần, tôi và Nga đã hẹn nhau cuối tuần sẽ cùng đi mua quà sinh nhật cho bố của bạn ấy. Chúng tôi hẹn nhau sáu giờ trước cổng trường, tôi đã hứa chắc chắn rằng sẽ đến đúng giờ. Nhưng tối hôm ấy, bố nói rằng hôm sau sẽ đưa cả nhà đi xem phim. Đó còn là bộ phim mà tôi rất thích nữa. Tôi cảm thấy vô cùng thích thú, và háo hức mà quên mất lời hứa với Nga.

Advertisement

Sáng hôm sau, tôi cùng bố mẹ đi xem phim mà vẫn không nhớ gì đến lời hẹn với Nga. Đến rạp chiếu phim, tôi vẫn vui vẻ cùng bố mẹ đi mua vé mà không nhớ gì đến Nga đang đứng chờ mình trước cổng trường. Gần đến giờ hẹn, tôi bỗng thấy điện thoại của mình đổ chuông. Khi nhìn thấy màn hình hiển thị số điện thoại là Nga, tôi mới chợt nhớ ra lời hẹn của mình. Tiếng chuông điện thoại cứ kéo dài vô tận, tôi không dám nghe điện thoại. Một lúc sau, Nga gọi lại, tôi biết không thể trốn tránh nên đành phải nghe máy.

Giọng của Nga đầy lo lắng hỏi tôi:

– Ngọc ơi, sao cậu chưa đến vậy? Có chuyện gì xảy ra à?

Tôi ngập ngừng:

– Nga ơi… tớ xin lỗi. Tớ đã quên mất lời hẹn với cậu. Bây giờ, tớ không thể đi mua quà cùng cậu được. Tớ đang đi chơi cùng bố mẹ.

Im lặng một lúc, Nga mới nói:

– Không sao, Ngọc ạ. Tớ có thể tự đi mua một mình được. Cậu không bị làm sao là tốt rồi.

Mặc dù, Nga nói rằng không sao. Nhưng tôi biết bạn ấy cảm thấy rất buồn. Tôi tắt điện thoại mà lòng cảm thấy vô cùng áy náy. Tôi tự trách bản thân mình lại quên mất lời hẹn với Nga. Suốt buổi đi chơi hôm đó, tôi không còn cảm thấy vui vẻ nữa. Sáng hôm sau, khi đến lớp, tôi nhanh chóng đến xin lỗi Nga. Thật may, Nga là một cô bạn tốt bụng, đã tha thứ cho lỗi lầm của tôi. Cuối buổi hôm đó, tôi rủ Nga đi mua quà tặng cho bố của bạn ấy, vì tôi cũng được mời đến dự buổi tiệc. Chúng tôi vừa đi vừa trò chuyện vui vẻ về món quà mà Nga tặng bố.

Sau kỉ niệm lần đó, tôi đã có được một bài học quan trọng về tầm quan trọng của việc giữ lời hứa, đặc biệt là đối với những người bạn thân thiết.

Soạn Bài Tuyên Bố Thế Giới Về Sự Sống Còn, Quyền Được Bảo Vệ Và Phát Triển Của Trẻ Em Soạn Văn 9 Tập 1 Bài 3 (Trang 31)

Soạn bài Tuyên bố thế giới về sự sống còn của trẻ em

Chúng tôi sẽ cung cấp tài liệu Soạn văn 9: Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em, mời bạn đọc cùng tham khảo.

I. Đôi nét về tác phẩm

1. Hoàn cảnh sáng tác

– Văn bản “Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em” được trích trong trong bản tuyên bố của Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em, trong Việt Nam và các văn kiện quốc tế về quyền trẻ em.

– Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em họp tại trụ sở Liên Hợp Quốc ở Niu Oóc ngày 30 tháng 9 năm 1990.

2. Bố cục

Gồm 4 phần:

Phần 1. Từ đầu đến “thu nhận thêm những kinh nghiệm mới”: Khẳng định quyền được sống, quyền được phát triển của trẻ em trên thế giới.

Phần 2. Tiếp theo đến “với tư cách là những nhà lãnh đạo chính trị, phải đáp ứng”: Thách thức cho sự phát triển của trẻ em.

Phần 3. Tiếp theo đến “tái phân bổ các nguồn tài nguyên đó”: Cơ hội đẩy mạnh việc quan tâm, bảo vệ trẻ em.

Phần 4. Còn lại: Nhiệm vụ của quốc gia và cả cộng đồng để có thể bảo vệ quyền lợi của trẻ em.

II. Đọc – hiểu văn bản

1. Khẳng định quyền được sống, quyền được phát triển của trẻ em trên thế giới

– Giới thiệu hoàn cảnh của lời kêu gọi: khi tham gia Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em.

– Nêu ra đặc điểm chung của trẻ em trên thế giới:

Trong trắng, dễ bị tổn thương, bị phụ thuộc.

Hiểu biết, ham hoạt động và đầy ước vọng.

– Quyền lợi của trẻ em:

Được học tập, vui chơi.

Tương lai của chúng phải được hình thành trong sự hòa hợp và tương trợ.

Được trưởng thành khi được mở rộng tầm nhìn, thu nhận kiến thức.

2. Thách thức cho sự phát triển của trẻ em

Một loạt thách thức được đặt ra trong thực tế cuộc sống:

– Trở thành nạn nhân của chiến tranh, bạo lực và nạn phân biệt chủng tộc, sự chiếm đóng và thôn tính ở nước ngoài.

– Sống trong cảnh đói nghèo, khủng hoảng kinh tế, vô gia cư, dịch bệnh.

– 40000 trẻ em chết vì suy dinh dưỡng và bệnh tật trong một ngày.

3. Cơ hội đẩy mạnh việc quan tâm, bảo vệ trẻ em

Không chỉ có khó khăn mà còn có cả những cơ hội:

– Đủ phương tiện và kiến thức để bảo vệ sinh mệnh của trẻ em, loại trừ được một phần rất lớn những nỗi khổ đau của các em.

– Công ước về quyền trẻ em tạo ra cơ hội mới để cho quyền và phúc lợi trẻ em.

– Những cải thiện của bầu không khí chính trị quốc tế.

– Sự hợp tác và đoàn kết của quốc tế trên nhiều lĩnh vực.

4. Nhiệm vụ của quốc gia và cả cộng đồng để có thể bảo vệ quyền lợi của trẻ em

– Trách nhiệm hàng đầu: tăng cường sức khỏe và chế độ dinh dưỡng của trẻ em.

– Quan tâm hơn đến trẻ em bị tàn tật, có hoàn cảnh sống đặc biệt khó khăn.

– Tăng cường hơn vai trò của phụ nữ nói chung và phải bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ.

– Đảm bảo cho các em đều được đi học, không có một em nào mù chữ.

– Đảm bảo an toàn khi mang thai và sinh đẻ cần được đẩy mạnh hơn.

– Xây dựng một môi trường sống tốt đẹp, lành mạnh cho các em.

– Đảm bảo sự phát triển kinh tế của đất nước.

– Con người cần phối hợp cùng nhau xây dựng các biện pháp.

Tổng kết: 

– Nội dung: Bản Tuyên bố của Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em ngày 30 – 9 – 1990 đã khẳng định rằng bảo vệ quyền lợi, chăm lo đến sự phát triển của trẻ em là một trong những vấn đề quan trọng, cấp bách, có ý nghĩa toàn cầu.

– Nghệ thuật: Trình bày khoa học, lí lẽ chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục.

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Văn bản này (gồm 17 mục) được bố cục thành mấy phần? Phân tích tính hợp lý, chặt chẽ của bố cục này.

– Văn bản trên gồm 4 phần.

Phần 1. Từ đầu đến “thu nhận thêm những kinh nghiệm mới”: Khẳng định quyền được sống, quyền được phát triển của trẻ em trên thế giới.

Phần 2. Tiếp theo đến “với tư cách là những nhà lãnh đạo chính trị, phải đáp ứng”: Thách thức cho sự phát triển của trẻ em.

Phần 3. Tiếp theo đến “tái phân bổ các nguồn tài nguyên đó”: Cơ hội đẩy mạnh việc quan tâm, bảo vệ trẻ em.

Phần 4. Còn lại: Nhiệm vụ của quốc gia và cả cộng đồng để có thể bảo vệ quyền lợi của trẻ em.

– Sự chặt chẽ, hợp lý ở chỗ: Đầu tiên văn bản đã đưa ra cơ sở của lời tuyên bố, chứng minh qua hai mặt thách thức và cơ hội, cuối cùng là kết luận lại bằng nhiệm vụ.

Câu 2. Ở phần “Sự thách thức”, bản Tuyên bố đã nêu lên thực tế cuộc sống của trẻ em trên thế giới ra sao? Nhận thức, tình cảm của em khi đọc phần này như thế nào?

– Thực tế cuộc sống của trẻ em:

Trở thành nạn nhân của chiến tranh, bạo lực và nạn phân biệt chủng tộc, sự chiếm đóng và thôn tính ở nước ngoài.

Sống trong cảnh đói nghèo, khủng hoảng kinh tế, vô gia cư, dịch bệnh.

40000 trẻ em chết vì suy dinh dưỡng và bệnh tật trong một ngày.

– Nhận thức, thái độ của em: Xót xa, đau lòng và cảm thông trước thực tế cũng sống của trẻ em trên thế giới.

Câu 3. Qua phần “Cơ hội”, em thấy việc bảo vệ chăm sóc trẻ em trong bối cảnh thế giới hiện nay có những điều kiện gì thuận lợi?

Những điều kiện thuận lợi:

– Đủ phương tiện và kiến thức để bảo vệ sinh mệnh của trẻ em, loại trừ được một phần rất lớn những nỗi khổ đau của các em.

– Công ước về quyền trẻ em tạo ra cơ hội mới để cho quyền và phúc lợi trẻ em.

– Những cải thiện của bầu không khí chính trị quốc tế.

– Sự hợp tác và đoàn kết của quốc tế trên nhiều lĩnh vực.

Câu 4. Ở phần “Nhiệm vụ”, bản Tuyên bố đã nêu lên khá nhiều điểm mà từng quốc gia và cả cộng đồng quốc tế cần phải nỗ lực phối hợp hành động. Hãy phân tích tính chất toàn diện của nội dung này?

– Các nhiệm vụ được đặt ra cụ thể, thực tế và không quá xa vời. Từ nhiệm vụ hàng đầu cho đến nhiệm vụ quan trọng nhất đều đúng đắn và hợp lý với thực tế.

– Các nhiệm vụ đặt ra được bao quát trên mọi lĩnh vực (y tế, giáo dục, xã hội) đến mọi giới tính (nam, nữ) và mọi cấp độ (gia đình, quốc gia, nhân loại).

Câu 5. Qua bản Tuyên bố, em nhận thức như thế nào về tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em, về sự quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với vấn đề này?

– Bảo vệ quyền lợi, chăm sóc cho trẻ em chính là nhiệm hàng đầu của từng quốc gia và của toàn thế giới.

– Vấn đề này đã thực sự dành được sự quan tâm chú ý với bản Tuyên bố trên.

II. Luyện tập

Phát biểu ý kiến về sự quan tâm, chăm sóc của chính quyền địa phương, của các tổ chức xã hội nơi em ở hiện nay đối với trẻ em.

Gợi ý:

– Ở đất nước Việt Nam, vấn đề quyền trẻ em ngày càng được quan tâm hơn.

Nhiều chính sách hỗ trợ được nhà nước đề ra.

Xã hội quan tâm đến những vấn đề về bạo lực trẻ em, xâm phạm thân thể trẻ em… đều bị lên án, thậm chí bị truy tố trách nhiệm hình sự.

Các hoạt động, chương trình hỗ trợ trẻ em: Trung thu cho em, Cặp lá yêu thương…

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Văn bản này (gồm 17 mục) được bố cục thành mấy phần? Phân tích tính hợp lý, chặt chẽ của bố cục này.

– Bố cục gồm 4 phần:

Phần 1. Từ đầu đến “thu nhận thêm những kinh nghiệm mới”: Khẳng định quyền được sống, quyền được phát triển của trẻ em trên thế giới.

Phần 2. Tiếp theo đến “với tư cách là những nhà lãnh đạo chính trị, phải đáp ứng”: Thách thức cho sự phát triển của trẻ em.

Phần 3. Tiếp theo đến “tái phân bổ các nguồn tài nguyên đó”: Cơ hội đẩy mạnh việc quan tâm, bảo vệ trẻ em.

Phần 4. Còn lại: Nhiệm vụ của quốc gia và cả cộng đồng để có thể bảo vệ quyền lợi của trẻ em.

– Sự chặt chẽ, hợp lý ở chỗ: Đầu tiên văn bản đã đưa ra cơ sở của lời tuyên bố, chứng minh qua hai mặt thách thức và cơ hội, cuối cùng là kết luận lại bằng nhiệm vụ.

Câu 2. Ở phần “Sự thách thức”, bản Tuyên bố đã nêu lên thực tế cuộc sống của trẻ em trên thế giới ra sao? Nhận thức, tình cảm của em khi đọc phần này như thế nào?

– Thực tế cuộc sống của trẻ em:

Trở thành nạn nhân của chiến tranh, bạo lực và nạn phân biệt chủng tộc, sự chiếm đóng và thôn tính ở nước ngoài.

Sống trong cảnh đói nghèo, khủng hoảng kinh tế, vô gia cư, dịch bệnh.

40000 trẻ em chết vì suy dinh dưỡng và bệnh tật trong một ngày.

– Nhận thức, thái độ của em: Xót xa, đau lòng và cảm thông trước thực tế cũng sống của trẻ em trên thế giới.

Câu 3. Qua phần “Cơ hội”, em thấy việc bảo vệ chăm sóc trẻ em trong bối cảnh thế giới hiện nay có những điều kiện gì thuận lợi?

– Đủ phương tiện và kiến thức để bảo vệ sinh mệnh của trẻ em, loại trừ được một phần rất lớn những nỗi khổ đau của các em.

– Công ước về quyền trẻ em tạo ra cơ hội mới để cho quyền và phúc lợi trẻ em.

– Những cải thiện của bầu không khí chính trị quốc tế.

– Sự hợp tác và đoàn kết của quốc tế trên nhiều lĩnh vực.

Câu 4. Ở phần “Nhiệm vụ”, bản Tuyên bố đã nêu lên khá nhiều điểm mà từng quốc gia và cả cộng đồng quốc tế cần phải nỗ lực phối hợp hành động. Hãy phân tích tính chất toàn diện của nội dung này?

– Các nhiệm vụ được đặt ra cụ thể, thực tế và không quá xa vời. Từ nhiệm vụ hàng đầu cho đến nhiệm vụ quan trọng nhất đều đúng đắn và hợp lý với thực tế.

– Các nhiệm vụ đặt ra được bao quát trên mọi lĩnh vực (y tế, giáo dục, xã hội) đến mọi giới tính (nam, nữ) và mọi cấp độ (gia đình, quốc gia, nhân loại).

Câu 5. Qua bản Tuyên bố, em nhận thức như thế nào về tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em, về sự quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với vấn đề này?

– Bảo vệ quyền lợi, chăm sóc cho trẻ em chính là nhiệm hàng đầu của từng quốc gia và của toàn thế giới.

– Vấn đề này đã thực sự dành được sự quan tâm chú ý với bản Tuyên bố trên.

II. Luyện tập

Phát biểu ý kiến về sự quan tâm, chăm sóc của chính quyền địa phương, của các tổ chức xã hội nơi em ở hiện nay đối với trẻ em.

Gợi ý:

Ở đất nước Việt Nam, vấn đề quyền trẻ em ngày càng được quan tâm hơn. Đảng và Nhà nước đã đưa ra những chính sách quan tâm và hỗ trợ trẻ em. Các vấn đề về bạo lực trẻ em, xâm phạm thân thể trẻ em… đều bị lên án, thậm chí bị truy tố trách nhiệm hình sự. Nhiều hoạt động, chương trình: Trung thu cho em, Cặp lá yêu thương, Việc tử tế… nhằm hỗ trợ trẻ em trong học tập, cuộc sống. Cơ sở, hệ thống giáo dục quan tâm hơn tới đào tạo đội ngũ giáo viên chuẩn mực trong cách dạy dỗ, giao tiếp ứng xử đối với học sinh. Đồng thời, chúng ta cần xóa bỏ những tiềm thức đã ăn sâu vào nếp sống từ xưa đến nay là khó khăn nhưng cần thay đổi để xã hội trở nên văn minh hơn. Tất cả đã thể hiện được sự quan tâm đặc biệt dành cho trẻ em – những chủ nhân tương lai của đất nước.

Advertisement

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1.

– Văn bản được chia làm bốn phần:

Phần 1. Khẳng định quyền được sống, quyền được phát triển của trẻ em trên thế giới.

Phần 2. Thách thức cho sự phát triển của trẻ em.

Phần 3. Cơ hội đẩy mạnh việc quan tâm, bảo vệ trẻ em.

Phần 4. Nhiệm vụ của quốc gia và cả cộng đồng để có thể bảo vệ quyền lợi của trẻ em.

– Sự chặt chẽ: Mở đầu nêu cơ sở của lời tuyên bố, chứng minh qua hai mặt thách thức và cơ hội, kết luận lại bằng nhiệm vụ.

Câu 2.

– Thực tế cuộc sống của trẻ em:

Trẻ em trở thành nạn nhân của hiểm họa chiến tranh và bạo lực, của sự phân biệt chủng tộc, của sự xâm lược, chiếm đóng và thôn tính của nước ngoài.

Trẻ em là nạn nhân của đói nghèo và khủng hoảng kinh tế, của nạn vô gia cư, dịch bệnh, mù chữ, môi trường xuống cấp.

Tình trạng trẻ em chết do suy dinh dưỡng, bệnh tật và ma túy.

– Nhận thức, tình cảm: Đồng cảm, xót xa.

Câu 3.

Đầy đủ phương tiện, kiến thức để bảo vệ trẻ em.

Công ước về quyền trẻ em.

Sự đoàn kết, hợp tác của các quốc gia…

Câu 4.

Nhiệm vụ đưa ra cụ thể cho từng quốc gia và cộng đồng quốc tế.

Nhiệm vụ đặt ra trên mọi lĩnh vực, cấp độ.

Câu 5.

Nhiệm vụ hàng đầu của mỗi quốc gia.

Thể hiện trình độ văn minh của một xã hội, quốc gia.

Ngày càng được quan tâm nhiều hơn.

II. Luyện tập

Phát biểu ý kiến về sự quan tâm, chăm sóc của chính quyền địa phương, của các tổ chức xã hội nơi em ở hiện nay đối với trẻ em.

Gợi ý:

Tiếng Anh 9 Unit 5: Skills 1 Soạn Anh 9 Trang 56

Read an article about the Perfume Pagoda. Look at …(Đọc bài báo sau về chùa Hương. Nhìn vào các từ bảng rồi tìm những từ đó trong đoạn văn và gạch chân. Chúng có nghĩa là gì?)

Perfume Pagoda is a religious site as well as being a great sight-seeing spot in Viet Nam. It is situated in Huong Son Commune, My Duc District, Ha Noi. It is a vast complex of Buddhist temples and shrines, including Den Trinh (Presentation Shrine) and Thien Tru (Heaven Kitchen) Pagoda, in the limestone Huong Tich mountains. The centre of this complex is the Perfume Temple, also called Chua Trong (Inner Temple), located in Huong Tich Cavern. It is thought that the first temple was built on the current site of Thien Tru in the 15th century during the reign of Le Thanh Tong. Over the years some of its structures which were in ruins have been restored or replaced.

Many Vietnamese works of literature, both old and modern, have made Perfume Pagoda their focus. It has also provided backdrops for many famous paintings. Its beauty has been used as a theme of many famous songs and a topic of lyric poetry. Nowadays during its festival (from the middle of January to the middle of March on the lunar calendar), Perfume Pagoda attracts large numbers of pilgrims from all over Viet Nam.

Hướng dẫn dịch

Chùa Hương là một địa điểm tín ngưỡng cũng như một thắng cảnh đẹp ở Việt Nam. Nó tọa lạc ở phường Hương Sơn, quận Mỹ Đức, Hà Nội. Nó là một quần thể đền và điện Phật to lớn, bao gồm đền Trình và chùa Thiên Trụ ở núi đá vôi Hương Tích. Trung tâm của quần thể là đền Hương, còn gọi là chùa Trong tọa lạc tại động Hương Tích. Nó được cho rằng đó là ngôi đền đầu tiên được xây dựng trên vị trí hiện tại của Thiên Trụ vào thế kỉ 15 suốt triều đại Lê Thánh Tông.

Qua nhiều năm một vài cấu trúc của nó bị hư hại đã được khôi phục và thay thế.

vast (adj): rộng lớn, to lớn (về kích cỡ, số lượng)

pilgrim (n): người hành hương – người đi đến 1 vùng linh thiêng vì lý do tôn giáo.

backdrop (n): tấm màn lớn

reign (n): triều đại

Read the article again and answer the questions. (Đọc bài báo và trả lời câu hỏi)

1. Where is the Perfume Pagoda located?

(Chùa Hương ở đâu?)

2. What does the complex of the Perfume Pagoda include?

(Khu phức hợp Chùa Hương bao gồm những gì?)

3. Where is the centre of this complex located?

(Trung tâm của khu phức hợp được đặt ở đâu?)

4. What is special about the beauty of the Perfume Pagoda?

(Vẻ đẹp đặc biệt của chùa Hương là gì?)

5. Who visits the Perfume Pagoda during its religious festival?

Gợi ý đáp án

1. It is located in Huong Son Commune, My Due District, Ha Noi.

2. It includes Den Trinh (Presentation Shrine), Thien Tru (Heaven Kitchen) Pagoda, and the Perfume Temple.

3. The centre of this complex, the Perfume Temple, also known as ChuaTrong (Inner Temple), is located in Huong Tich Cavern.

4. Its beauty has been used as a theme of many famous songs and a topic of lyric poetry.

5. Pilgrims from all over Viet Nam do.

Thứ tự: b-a-c-d-e

Hướng dẫn dịch

a. Có nhiều đường xá, khách sạn, nhà máy được xây dựng quanh các kỳ quan nhân tạo.

b. Có quá nhiều du khác thăm quan các kỳ quan nhân tạo mỗi ngày.

c. Chính quyền địa phương không có những biện pháp dài hạn để bảo vệ các kỳ quan nhân tạo khỏi những tác động xấu của điều kiện thời tiết.

d. Những khu nghỉ dưỡng được xây dựng gần đây thay đổi cấu trúc của một số kỳ quan nhân tạo.

e. Nhiều tài sản ở những kỳ quan nhân tạo bị trộm cắp.

a.Work in pairs. Use the ideas in 3 to suggest ways to protect and preserve the man-made wonders of Viet Nam.(Làm việc theo cặp. Sử dụng 3 ý tưởng để gợi ý cách bảo vệ và bảo tồn các kì quan nhân tạo của Việt Nam.)

Gợi ý:

A: It is reported that many man-made wonders have been damaged. What should we do to protect and preserve them?

B: I suggest that local government should have long-term measures to protect man-made wonders from severe weather conditions.

A: It must be helpful. I’d like to suggest limiting the number of building around them to preserve them.

b.Report your best ideas to the class.(Thuyết trình những ý tưởng hay nhất cho cả lớp nghe.)

Gợi ý:

We suggested that local government should have long-term measures to protect man-made wonders from severe weather conditions. As we can see many man-made wonders are placed outdoors so weather can affect them significantly. If we don’t have long-term measures, they can be ruined little by little, day by day.

Địa Lí 8 Bài 2: Khí Hậu Châu Á Soạn Địa 8 Trang 9

a) Khí hậu châu Á phân hóa thành nhiều đới khác nhau

Khí hậu châu Á gồm các đới:

Đới khí hậu cực và cận cực

Đới khí hậu ôn đới

Đới khí hậu cận nhiệt

Đới khí hậu nhiệt đới

Đới khi hậu Xích đạo

b) Các đới khí hậu châu Á phân thành nhiêu kiểu khí hậu khác nhau

– Đới khí hậu ôn đới:

Kiểu ôn đới lục địa

Kiểu ôn đới gió mùa

Kiểu ôn đới hải dương

– Đới khí hậu cận nhiệt:

Kiểu cận nhiệt địa trung hải

Kiểu cận nhiệt gió mùa

Kiểu cận nhiệt lục địa

Kiểu núi cao

– Đới khí hậu nhiệt đới

Kiểu nhiệt đới khô

Kiểu nhiệt đới gió mùa

Tóm lại, châu Á có nhiều đới khí hậu khác nhau, trong mỗi đới lại có sự phân thành các kiểu khí hậu

– Nguyên nhân:

Do lãnh thổ trải dải từ vùng cực bắc đến vùng Xích đạo, lãnh thổ rất rộng.

Do ảnh hưởng của các dãy núi.

a) Các kiểu khí hậu gió mùa

– Khí hậu gió mùa của châu Á gồm:

Kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa phân bố ở Nam Á và Đông Nam Á.

Kiểu khí hậu cận nhiệt và ôn đới gió mùa phân bố ở Đông Á.

– Kiểu khí hậu gió mùa: một năm có hai mùa gió, mùa đông có gió từ nội địa thổi ra lạnh, khô và mưa không đáng kể; còn mùa hạ có gió từ đại dương thổi vào có tính chất nóng ẩm và mua nhiều.

b) Các kiểu khí hậu lục địa

Các kiểu khí hậu lục địa ở châu Á: ôn đới lục địa, cận nhiệt lục địa, nhiệt đới khô.

Phân bố: các vùng nội địa và khu vực Tây Nam Á.

Đặc điểm: mùa đông lạnh và khô, mùa hạ nóng khô; lượng mưa trung bình năm 200-500mm; độ bốc hơi lớn, độ ẩm thấp; hoang mạc và bán hoang mạc phát triển.

Trang 7 sgk Địa Lí 8

– Quan sát hình 2.1, em hãy

– Đọc tên các đới khí hậu từ vùng cực Bắc đến vùng xích đạo dọc theo kinh tuyến 80o0Đ.

– Giải thích tại sao khí hậu châu Á lại chia thành nhiều đới như vậy?

Trả lời:

Các đới khí hậu từ vùng cực Bắc đến vùng Xích đạo dọc theo kinh tuyến 80o0Đ: đới khí hậu cực và cận cực, đới khí hậu ôn đới, đới khí hậu cận nhiệt đới, đới khí hậu nhiệt đới.

Châu Á có nhiều đới khí hậu khác nhau là do lãnh thổ trải dài từ vùng cực Bắc đến vùng Xích đạo.

Trang 8 sgk Địa Lí 8

– Quan sát hình 2.1, em hãy chỉ một trong các đới có nhiều kiểu khí hậu và đọc tên các kiểu khí hậu thuộc đới đó.

Trả lời:

Đới có nhiều kiểu khí hậu nhất ở châu Á là đới khí hậu cận nhiệt, gồm có các kiểu khí hậu:

– Kiểu cận nhiệt địa trung hải.

– Kiểu cận nhiệt lục địa.

– Kiểu núi cao.

– Kiểu cận nhiệt gió mùa.

Trang 8 sgk Địa Lí 8

– Quan sát hình 2.1, em hãy chỉ các khu vực thuộc các kiểu khí hậu gió mùa.

Trả lời:

Các khu vực thuộc kiểu khí hậu gió mùa: Nam Á, Đông Nam Á (gió mùa nhiệt đới), Đông Á (gió mùa cận nhiệt và ôn đới).

Trang 8 sgk Địa Lí 8

– Quan sát hình 2.1, em hãy

– Chỉ những khu vực thuộc các kiểu khí hậu lục địa.

– Cho biết các kiểu khí hậu lục địa có những đặc điểm chung gì đáng chú ý?

Trả lời:

– Các khu vực thuộc các kiểu khí hậu lục địa: các vùng nội địa và khu vực Tây Nam Á.

– Các kiểu khí hậu lục địa có những đặc điểm chung đáng chú ý:

+ Mùa đông khô và lạnh, mà hạ khô và nóng.

+ Lương mưa trung bình thay đổi từ 200 – 500 mm. Độ bốc hơi rất lớn nên độ ẩm không khí luôn luôn thấp.

Advertisement

Dựa vào các biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa của ba địa điểm, em cho biết:

– Mỗi địa điểm nằm trong kiểu khí hậu nào?

– Nêu đặc điểm về nhiệt độ và lượng mưa của mỗi địa điểm đó

Gợi ý đáp án:

– Ba biểu đồ khí hậu thuộc các kiểu khí hậu sau đây:

U–lan Ba–to (Mông cổ): thuộc kiểu khí hậu ôn đới lục địa.

E Ri–át (A–rập Xê–út): thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới khô.

Y–an–gun (Mi–an–ma): thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa.

– Đặc điểm về nhiệt độ và lượng mưa mỗi địa điểm:

U–lan Ba–to: nhiệt độ trung bình năm khoảng 10oC, nhiều tháng dưới 0oC. Lượng mưa trung bình năm 220mm. Mưa tập trung vào các tháng 5, 6, 7, 8.

E Ru–át: nhiệt độ trung bình trên 20oC. Lượng mưa trung bình năm 82mm. Mưa tập trung và các tháng 1, 2, 3, nhưng rất ít.

Y–an-gun: nhiệt độ trung bình năm cao trên 25oC. Lượng mưa trung bình nằm trên 2750mm. Mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10.

Dựa vào bảng 2.1, hãy vẽ biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa vào vở học và xác định địa điểm này thuộc kiểu khí hậu nào?

Gợi ý đáp án:

Biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa ở Thượng Hải (Trung Quốc)

Soạn Bài Tóm Tắt Văn Bản Tự Sự Soạn Văn 8 Tập 1 Bài 5 (Trang 60)

Soạn bài Tóm tắt văn bản tự sự

Chính vì vậy, chúng tôi sẽ cung cấp bài Soạn văn 8: Tóm tắt văn bản tự sự, hướng dẫn học sinh biết cách tóm tắt một văn bản. Mời các bạn học sinh cùng tham khảo nội dung chi tiết ngay sau đây.

1. Trong cuộc sống hàng ngày, có những tác phẩm tự sự chúng ta chưa có điều kiện đọc, nhưng lại muốn biết nội dung chính của nó. Những lúc ấy, chúng ta có thể đọc qua bản tóm tắt tác phẩm.

2. Từ những gợi ý trên, theo em thế nào là tóm tắt văn bản tự sự? Suy nghĩ và lựa chọn câu trả lời đúng nhất trong SGK.

Đáp án đúng là:

b. Ghi lại một cách ngắn gọn, trung thành những nội dung chính của văn bản tự sự.

1. Những yêu cầu đối với văn bản tóm tắt

Đọc văn bản trong SGK và trả lời câu hỏi:

a. Văn bản tóm tắt kể lại nội dung của văn bản nào? Dựa vào đâu mà nhận ra được điều đó? Văn bản tóm tắt trên có nêu được nội dung chính của văn bản tóm tắt không?

– Văn bản tóm tắt kể lại nội dung của văn bản Sơn Tinh, Thủy Tinh.

– Dựa vào tên nhân vật, nội dung chính của văn bản tóm tắt.

– Văn bản tóm tắt trên có nêu được nội dung chính của văn bản tóm tắt: Giới thiệu về nhân vật chính, sự kiện chính và kết quả của câu chuyện.

b. Văn bản tóm tắt trên có gì khác so với văn bản được tóm tắt?

Khác nhau:

– Hình thức: Văn bản tóm tắt ngắn hơn.

– Nội dung: Văn bản tóm tắt có số lượng nhân vật, sự kiện ít hơn.

c. Từ việc tìm hiểu trên, hãy cho biết các yêu cầu đối với một văn bản tóm tắt.

Yêu cầu:

Đầy đủ các sự kiện chính.

Sắp xếp các sự kiện chính theo trình tự hợp lí.

2. Các bước tóm tắt văn bản

– Muốn tóm tắt văn bản, cần làm:

Đọc kĩ nội dung văn bản được tóm tắt.

Tìm ra những ý chính trong văn bản được tóm tắt.

Diễn đạt bằng lời văn những nội dung chính.

Sắp xếp lại các ý chính đó theo trình tự hợp lí.

– Những việc ấy cần phải thực hiện theo trình tự lần lượt.

Tổng kết:

– Tóm tắt văn bản tự sự là dùng lời văn của mình trình bày một cách ngắn gọn nội dung chính bao gồm sự việc tiêu biểu và nhân vật quan trọng của văn bản đó.

Tham Khảo Thêm:

 

Truyện cổ tích là gì? Khái niệm, đặc trưng và phân loại truyện cổ tích

– Văn bản tóm tắt phải phản ánh chính xác nội dung của văn bản được tóm tắt.

Tóm tắt các văn bản sau: Tôi đi học, Trong lòng mẹ, Lão Hạc.

Gợi ý:

– Tôi đi học:

Hằng năm, cứ cuối thu là những kỉ niệm của buổi đầu đến trường lại mơn man trong lòng tôi. Con đường đi học vốn rất quen thuộc bỗng trở nên xa lạ. Trong khoảnh khắc cùng mẹ bước đi trên con đường ấy, tôi cảm thấy bản thân đã đổi khác. Khi đến sân trường Mĩ Lí, tôi thấy mình như nhỏ bé và có chút bỡ ngỡ. Đến khi ông đốc gọi tên, tôi lo sợ và nép vào lòng mẹ bật khóc. Những lời an ủi của ông đốc vang lên khiến đám học sinh an tâm hơn, theo thầy giáo bước vào lớp học. Khung cảnh trong lớp dường như quen thuộc, ngay cả người bạn mới. Thầy giáo bắt đầu giảng bài – bài tập đọc: Tôi đi học.

– Trong lòng mẹ:

Sau khi bố mất, mẹ phải đi làm ăn xa tận Thanh Hóa, Hồng phải sống cùng bà cô độc ác. Một hôm, bà cô gọi Hồng lại và hỏi cậu có muốn được đi thăm mẹ. Hiểu được bà cô muốn gieo rắc vào đầu mình những hoài nghi để rồi “ruồng rẫy, căm ghét mẹ”, Hồng từ chối. Mặc dù vậy, bà cô vẫn tiếp tục kể cho cậu nghe về chuyện có người nhìn thấy mẹ Hồng ở Thanh Hóa và đã có em bé. Điều đó khiến cậu cảm thấy xót xa và căm ghét những hủ tục đã khiến mẹ phải xa rời anh em mình. Đến ngày giỗ đầu của bố, mẹ Hồng trở về khiến cậu vô cùng hạnh phúc khi được ngồi trong lòng mẹ, cảm nhận hơi thở quen thuộc của mẹ.

– Lão Hạc:

Lão Hạc là một người nông dân nghèo khổ sống. Lão có một đứa con trai nhưng vì nhà nghèo, không có tiền lấy vợ nên bỏ đi đồn điền cao su. Cả gia tài của lão chỉ có mảnh vườn vốn là của hồi môn của con trai và con chó Vàng sống cùng để bầu bạn. Sau trận ốm thập tử nhất sinh, nhà lão không còn gì để ăn. Lão đành phải bán con Vàng đi. Số tiền bán chó và bán mảnh vườn, lão đem gửi ông giáo và nhờ khi nào anh con trai về sẽ trao lại cho anh. Còn bản thân thì đến xin Binh Tư một ít bả chó, nói dối là để đánh bả con chó nhưng thực ra là để tự tử.

1. Trong cuộc sống hàng ngày, có những tác phẩm tự sự chúng ta chưa có điều kiện đọc, nhưng lại muốn biết nội dung chính của nó. Những lúc ấy, chúng ta có thể đọc qua bản tóm tắt tác phẩm.

2. Từ những gợi ý trên, theo em thế nào là tóm tắt văn bản tự sự? Suy nghĩ và lựa chọn câu trả lời đúng nhất trong SGK.

Đáp án đúng: b.

1. Những yêu cầu đối với văn bản tóm tắt

Đọc văn bản trong SGK và trả lời câu hỏi:

a. Văn bản tóm tắt kể lại nội dung của văn bản nào? Dựa vào đâu mà nhận ra được điều đó? Văn bản tóm tắt trên có nêu được nội dung chính của văn bản tóm tắt không?

Văn bản Sơn Tinh, Thủy Tinh.

Dựa vào tên nhân vật, nội dung văn bản.

Giới thiệu về nhân vật chính, sự kiện chính và kết quả của câu chuyện.

b. Văn bản tóm tắt khác với văn bản được tóm tắt:

Hình thức: ngắn gọn.

Nội dung: nêu các sự kiện chính.

c. Yêu cầu:

Đầy đủ các sự kiện chính.

Sắp xếp các sự kiện chính theo trình tự hợp lí.

2. Các bước tóm tắt văn bản

– Muốn tóm tắt văn bản, cần làm:

Đọc kĩ nội dung văn bản được tóm tắt.

Tìm ra những ý chính trong văn bản được tóm tắt.

Diễn đạt bằng lời văn những nội dung chính.

Sắp xếp lại các ý chính đó theo trình tự hợp lí.

– Những việc ấy cần phải thực hiện theo trình tự lần lượt.

Tóm tắt một số văn bản sau: Tức nước vỡ bờ (Ngô Tất Tố), Cuộc chia tay của những con búp bê (Khánh Hoài), Thánh Gióng.

Gợi ý:

– Tức nước vỡ bờ:

Gia đình thuộc “nghèo nhất nhì trong hạng cùng đinh” nên chị Dậu phải chạy ngược chạy xuôi vay tiền để nộp suất sưu cho chồng. Anh Dậu bị ốm nhưng vẫn bị bọn lính đánh trói, lôi ra đình cùm kẹp. Chị Dậu rứt ruột đem con Tí, đứa con gái đầu lòng bảy tuổi bán cho lão Nghị Quế bên thôn Đoài để lấy tiền nộp sưu. Đêm hôm ấy người ta cõng anh Dậu về. Bà con hàng xóm đến cứu giúp, có bà lão đem một bát gạo đến cho chị nấu cháo. Cháo chín, chị Dậu mang đến cho chồng. Nhưng anh Dậu chưa kịp ăn thì cai lệ và người nhà lí trưởng đã đến đòi tiền suất sưu của người em chồng đã chết. Chị Dậu tìm cách van xin để khất sưu, nhưng không được. Chúng định đánh anh Dậu, chị Dậu vùng lên đáp trả lại.

– Cuộc chia tay của những con búp bê:

Hai anh em Thành và Thủy hết mực yêu thương nhau. Nhưng vì bố mẹ ly hôn nên hai anh em không thể tiếp tục sống với nhau được nữa. Trước ngày chia tay, mẹ ra lệnh cho cả hai phải chia đồ chơi. Thành dành hầu hết số đồ chơi cho em: bộ tú lơ khơ, bàn cá ngựa, những con ốc biển và bộ chỉ màu và ngay cả hai con búp bê là Em Nhỏ và Vệ Sĩ. Ngày hôm sau, Thành đưa Thủy đến trường để chia tay cô giáo và bạn bè. Cô tặng cho Thủy một quyển sổ và một chiếc bút mực nhưng Thủy không dám nhận vì không còn được đi học nữa. Khi hai anh em về đến nhà thì đã nhìn thấy một chiếc xe tải đỗ trước cổng, cuộc chia tay quá đột ngột khiến cả hai bàng hoàng. Thủy chạy vào nhà lấy con Vệ Sĩ đưa cho Thành để nó gác cho anh ngủ. Nhưng sau đó, cô bé lại đem cả con Em Nhỏ lại cho anh và bắt anh hứa không bao giờ để chúng phải xa nhau nữa.

– Thánh Gióng:

Vào đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức nhưng mãi vẫn chưa có nổi một mụn con. Một hôm, bà lão đi ra đồng trông thấy một vết chân rất to liền đặt bàn chân mình lên ướm thử, không ngờ về nhà liền mang thai. Mười hai tháng sau, bà sinh ra được một cậu con trai. Cậu bé lên ba tuổi mà vẫn không biết nói biết cười. Lúc bấy giờ. giặc Ân đến xâm lược nước ta, nhà vua muốn tìm người tài đánh giặc cứu nước. Sứ giả đi đến làng Gióng thì kì lạ thay, cậu bé bỗng cất tiếng nói: “Mẹ mời sứ giả vào đây”. Cậu bảo sứ giả về tâu với vua sắm cho một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt để đánh giặc. Từ sau hôm đó, cậu bé lớn nhanh như thổi, cơm ăn mấy cũng không no, áo mặc mấy cũng không vừa. Giặc đến, vừa lúc sứ giả mang ngựa sắt, roi sắt và áo giáp sắt đến, cậu bé vươn vai biến thành tráng sĩ đánh tan quân giặc. Tráng sĩ đánh giặc xong cởi bỏ áo giáp sắt, cưỡi ngựa bay lên trời. Vua nhớ công ơn tôn là Phù Đổng Thiên Vương và cho lập đền thờ tại quê nhà.

1. Có những văn bản tự sự chúng ta đọc nhưng muốn ghi lại nội dung chính của chúng để sử dụng hoặc thông báo cho người khác biết thì phải tóm tắt văn bản tự sự.

2. Từ những gợi ý trên, theo em thế nào là tóm tắt văn bản tự sự? Suy nghĩ và lựa chọn câu trả lời đúng nhất trong SGK.

Đáp án:

b. Ghi lại một cách ngắn gọn, trung thành những nội dung chính của văn bản tự sự.

1. Những yêu cầu đối với văn bản tóm tắt

Đọc văn bản trong SGK và trả lời câu hỏi:

a. Văn bản tóm tắt kể lại nội dung của văn bản nào? Dựa vào đâu mà nhận ra được điều đó? Văn bản tóm tắt trên có nêu được nội dung chính của văn bản tóm tắt không?

Văn bản: Sơn Tinh, Thủy Tinh.

Cơ sở: Nhân vật(Vua Hùng thứ mười tám, Mị Nương Sơn Tinh, Thủy Tinh), Sự kiện chính (Vua Hùng kén rể; Sơn Tinh, Thủy Tinh đến cầu hôn; Nhà vua đưa ra các sính lễ; Sơn Tinh đến trước, lấy được Mị Nương; Thủy Tinh không lấy được vợ, dâng nước đánh Sơn Tinh)

Văn bản tóm tắt đã nêu được nội dung chính của văn bản Sơn Tinh, Thủy Tinh.

b. Khác nhau:

Hình thức: ngắn gọn.

Nội dung: Gồm các sự kiện chính.

c. Yêu cầu:

Đầy đủ các sự kiện chính.

Sắp xếp các sự kiện chính theo trình tự hợp lí.

2. Các bước tóm tắt văn bản

– Muốn tóm tắt văn bản, cần làm:

Xác định nội dung chính cần tóm tắt

Sắp xếp các nội dung ấy theo một trình tự hợp lí.

Viết thành văn bản tóm tắt

Đọc lại, chỉnh sửa

– Các bước tóm tắt trên cần phải được làm theo trình tự trước sau.

Tổng kết:

– Tóm tắt văn bản tự sự là dùng lời văn của mình trình bày một cách ngắn gọn nội dung chính bao gồm sự việc tiêu biểu và nhân vật quan trọng của văn bản đó.

– Văn bản tóm tắt phải phản ánh chính xác nội dung của văn bản được tóm tắt.

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Sử 9 Bài 1: Liên Xô Và Các Nước Đông Âu Từ Năm 1945 Đến Giữa Những Năm 70 Của Thế Kỉ Xx Soạn Lịch Sử 9 Trang 8 trên website Exas.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!