Xu Hướng 2/2024 # Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Exas.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ “Rằm tháng giêng” có thể nói là một phát biểu đánh giá sâu sắc về tác phẩm này. Bài thơ “Rằm tháng giêng” có thể được coi là một tác phẩm tuyệt vời về sự tưởng nhớ, sự tình cảm và sự tìm kiếm nghệ thuật. Nội dung bài thơ của bài thơ “Rằm tháng giêng” là sự tập trung vào sự tưởng nhớ về quá khứ và sự tìm kiếm sự tình cảm, tình yêu và sự thật. Nội dung của bài thơ cũng có thể đại diện cho một cảm xúc sâu sắc về sự biến đổi của thời gian và sự mất mát của các giá trị đẹp. Những cảm nghĩ này của người phát biểu đều cho thấy mức độ tôn trọng và sự quan tâm của họ đến nghệ thuật và sự tập trung vào nội dung của bài thơ.

Tham khảo sơ qua mấy dàn ý sau:

Dàn ý một.

Trong cuộc sống hằng ngày, tôi luôn tìm kiếm những giá trị đẹp để gắn kết với cuộc đời mình. Và bài thơ “Rằm tháng Giêng” của nhà thơ Hồ Chí Minh là một trong những tác phẩm đó.

Bài thơ “Rằm tháng Giêng” truyền tải những cảm nghĩ sâu sắc về tình yêu và tình bạn. Nó kể về mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên và giữa con người với con người. Bài thơ còn giới thiệu đến chúng ta những giá trị quý giá như tình bạn, tình yêu, sự thành thật và sự hợp tác.

Bằng cách sử dụng những hình tượng về thiên nhiên, nhà thơ đã truyền tải một tinh thần hạnh phúc và tràn đầy sức sống. Tôi đã được học hỏi nhiều điều từ bài thơ này, và tôi tin rằng nó sẽ giúp cho mọi người cảm nhận được sức mạnh của tình bạn và tình yêu.

Tôi rất tự hào khi có cơ hội phát biểu cảm nghĩ của mình về một tác phẩm độc đáo này

Dàn ý 2.

Bài thơ “Rằm tháng giêng” là một trong những bài thơ của nhà thơ Việt Nam được yêu thích và truyền cảm nhiều nhất. Bài thơ này đưa ra cảm nghĩ sâu sắc về cuộc đời con người và thế giới xung quanh, tràn đầy nỗi niềm trong sáng và sự tình cảm.

Trong bài thơ, tác giả sử dụng các hình tượng từ thiên nhiên để diễn tả sự sống và cảm xúc của con người. Ví dụ, rằm tháng giêng được sử dụng để biểu tượng cho sự trẻ trung, mới mẻ của cuộc đời.

Còn nội dung của bài thơ lại cho thấy sự tình cảm đầy tự do và tự nhiên của tác giả. Bài thơ này cung cấp cho chúng ta những cảm nhận sâu sắc về cuộc đời và con người, giúp chúng ta nhìn sâu hơn vào thế giới xung quanh.

Tổng thể, bài thơ “Rằm tháng giêng” là một tác phẩm văn học xuất sắc, giúp chúng ta nhìn sâu hơn vào cuộc đời và cảm xúc của con người. Chúng ta có thể học được nhiều điều từ bài thơ.

Trong bài thơ “Rằm tháng Giêng”, tác giả đã sử dụng những từ ngữ trong tình huống rằm tháng Giêng để truyền tải cảm xúc về sự yên bình, tĩnh lặng của mùa đông. Những câu chữ được sắp xếp tốt, đẹp mắt, tạo ra một hình ảnh đẹp về mùa đông tuyệt vời.

Bài thơ còn truyền tải đến độc giả những suy nghĩ về cuộc sống, tình cảm và tình bạn. Nó khiến cho chúng ta nhận ra sức mạnh của tình bạn và sự quan tâm đến nhau trong cuộc sống.

Tôi cảm thấy rất được hấp dẫn bởi bài thơ này và tôi đánh giá cao tài năng của tác giả trong viết bài thơ. Tôi tin rằng bài thơ này sẽ giúp cho độc giả cảm nhận được sự yên bình và hạnh phúc trong mùa đông và sẽ giúp họ suy nghĩ về một số vấn đề quan trọng trong cuộc sống.

Chào mừng đến với bài phát biểu cảm nghĩ về bài thơ “Rằm tháng giêng”. Bài thơ này là một tác phẩm nổi tiếng của nhà thơ Việt Nam và đã gây sự chú ý của độc giả.

Trong bài thơ, tác giả sử dụng hình ảnh rằm để biểu thị sự yên tĩnh và thanh bình của cuộc đời. Rằm là một hình tượng phổ biến trong văn học Việt Nam và được coi là biểu tượng của sự hạnh phúc và tình thân.

Tác giả cũng sử dụng một số từ ngữ cảm xúc mạnh mẽ để biểu thị sự quan tâm và sự yêu thương của họ đối với cuộc đời. Những cảm xúc này giúp độc giả cảm nhận được sự quan tâm và tình cảm của tác giả đối với cuộc sống.

Tổng quan, bài thơ “Rằm tháng giêng” là một tác phẩm tuyệt vời về sự hạnh phúc và tình thân. Nó giúp chúng ta nhận ra sức mạnh của tình yêu và sự quan tâm đối với cuộc sống. Chúng ta nên học hỏi và tôn trọng

Bài thơ Rằm tháng Giêng là một trong những tác phẩm của nhà thơ Việt Nam đặc sắc và gồm nhiều ý nghĩa sâu sắc. Khi đọc bài thơ này, tôi đã bị cuốn hút bởi sự tinh tế và sâu sắc của những lời thơ.

Trong bài thơ, nhà thơ đã sử dụng hình ảnh về mùa đông và rằm tháng Giêng để diễn tả sự buồn bã và tình yêu vô tận của con người. Những câu chữ của thơ cũng đầy tràn đầy sự trầm tư và sự tràn đầy tình cảm, giúp độc giả cảm nhận được sự tự nhiên và tự nguyện của tình yêu.

Tôi rất đánh giá cao bài thơ Rằm tháng Giêng vì nó giúp tôi hiểu rõ hơn về sự buồn bã và sự tình cảm của con người trong mùa đông. Nó cũng giúp tôi tập trung vào việc tìm kiếm những giá trị thật sự trong cuộc đời mình.

Bài thơ “Rằm tháng giêng” là một trong những tác phẩm của tác giả Hồ Chí Minh được nhiều người yêu mến và trở thành một trong những tác phẩm quốc gia của Việt Nam.

Bài thơ kể về sự mong manh và hy vọng của dân tộc Việt Nam trong thời đại đầu thế kỷ XX, khi chúng ta đang tìm kiếm sự độc lập và tự do. Những lời thơ nói về niềm tin vào tương lai tốt đẹp, và mong muốn cho một cuộc sống tự do và bình đẳng.

Tôi đã bị con tim tôi run lên khi đọc bài thơ này, vì nó tạo cảm giác rằng tôi đang chung tay cùng với dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến vì tự do và độc lập. Những lời thơ tràn đầy hy vọng và mong manh cho tương lai tốt đẹp của dân tộc, và tôi tin rằng chúng ta sẽ tiếp tục giữ vững niềm tin này cho đến khi tất cả mục tiêu được đạt được.

Tôi rất tự hào về bài thơ này và những giá trị mà nó đại diện cho.

Bài thơ Rằm tháng giêng của tác giả Hồ Chí Minh là một trong những tác phẩm đầy sức sống và ý nghĩa của ông. Trong bài thơ này, tác giả kể lại một cảnh tượng rằm tháng giêng, mô tả sự buồn rầu, tuyệt vọng và niềm hy vọng của dân tộc Việt Nam trong thời đại chiến tranh.

Bài thơ này có nhiều cảm xúc sâu sắc và tạo cảm giác mạnh mẽ về tình trạng của dân tộc và sự muốn tìm kiếm sự an toàn, hạnh phúc và tự do. Tác giả sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu và sức sống để truyền tải cảm xúc của mình và giữ vững tâm trạng của độc giả.

Tôi đánh giá rất cao bài thơ này vì nó không chỉ là một tác phẩm văn học mà còn là một bản tuyên ngôn quan trọng về sự muốn tìm kiếm sự an toàn, hạnh phúc và tự do của dân tộc.

Văn mẫu phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Rằm tháng giêng

Bài 1:

Trăng luôn là niềm cảm hứng bất tận của nhiều nhà thơ, thi sĩ, trăng mang lại vẻ đẹp từ thiên nhiên lung linh huyền ảo, ánh trăng trong bài thơ “Rằm tháng giêng” của Hồ Chí Minh người ta còn cảm nhận được cả chất “nghệ sĩ” của một thi nhân.

Bài thơ được Bác viết bằng thể thơ cổ, sử dụng trong thơ ca trung đại: thất ngôn tứ tuyệt. Về sau,  bài thơ được dịch giả Xuân Thủy dịch sang thể thơ lục bát với tên gọi quen thuộc đó là “Rằm tháng giêng”:

“Rằm xuân lồng lộng trăng soi

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.​”

Bài thơ được sáng tác vào năm 1947, lúc này Bác đang bộn bề công việc, chiến trận đang diễn ra ác liệt, người chiến sĩ cách mạng Hồ Chí Minh phải vượt qua khắc nghiệt của thời đại, ngắm nhìn vầng trăng và đưa ra vần thơ tuyệt diệu:

“Rằm xuân lồng lộng trăng soi

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân”

Bức tranh đêm trăng đẹp được bác vẽ ra thật đẹp, lúc ấy đã về khuya, trời đã bắt đầu có những cơn gió nhẹ. Mặt trăng tròn, tỏa ánh sáng khắp nơi khiến nhân gian dòng sông trăng lấp lánh. Trăng soi màu trời, trăng soi tiếng hát, trăng soi cả những con người đang ngồi ngắm ánh trăng giữa đêm khuya với tâm trạng đầy những tâm sự. Bác sử dụng từ láy “lồng lộng” để nói về sắc thái ánh trăng đêm nay. Ánh trăng tỏa sáng như đang ấp ôm, xoa dịu những tâm hồn lo lắng nhạy cảm trước những quyết sách lớn đối với vận mệnh của đất nước.

Ánh trăng ngày xuân làm vạn vật cũng trở nên xuân. Sắc xuân từ ánh trăng chan hòa vào cảnh vật, vào thiên nhiên, vào cuộc sống:

“Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân”

Các hình ảnh “sông xuân”, “nước xuân” và “trời xuân”. Các hình ảnh trên của mùa xuân như đang soi chiếu vào lẫn nhau, tôn lên nhau làm rạng rỡ thêm cho vẻ đẹp mùa xuân. Điệp từ “xuân” lặp lại ba lần như khẳng định cảnh sắc thiên nhiên mùa xuân trong đêm rằm. Không gian ấy được mở ra theo chiều cao, chiều sâu và cả chiều rộng khiên bức tranh đêm nguyên tiêu không chỉ bó hẹp mà lại mở ra đến vô cùng vô tận.

“Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”

Vẻ đẹp thiên nhiên rực rỡ cũng không làm cho người chiến sĩ quên đi nhiệm vụ trọng đại đang gánh vác. Ánh trăng kia thấu cảm cho sự vất vả, lo toan của người thi nhân – chiến sĩ.  Có lẽ chỉ cần như thế là đủ để thấy được tinh thần trách nhiệm và niềm mong muốn của Bác to lớn đến thế nào. Vầng trăng vẫn lặng lẽ dõi theo con người với tâm hồn cao đẹp đợi chờ lúc họ trở về:

“Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”

Đã đến khuya vậy mà trăng vẫn tràn ngập khắp nơi, trăng như đang chờ, đồng hành, đồng cảm cùng thi nhân. Hình ảnh “trăng ngân đầy thuyền” rất đẹp và lạ, ánh trăng soi dòng nước hay là ánh trăng “rơi xuống mạn thuyền” theo thi nhân đi vào bàn bạc quân tình, chính sự.

Trăng  gắn bó với người nghệ sĩ biết trân quý vẻ đẹp của trăng và chính người nghệ sĩ ấy cũng có một tâm hồn lãng mạn mới đủ sức nhìn thấy đêm trăng đồng hành, đồng cảm. Trong hoàn cảnh chiến tranh mà con người và thiên nhiên vẫn giao cảm, đồng hành và chia sẻ cùng nhau. Tác giả phải có tâm hồn lạc quan, yêu thiên nhiên thì mới viết nên những vần thơ hay và lay động lòng người như vậy.

Bài thơ “Rằm tháng giêng” Bác đã vẽ ra bức tranh ngày xuân tuyệt đẹp và có nhiều điều trăn trở về vận mệnh ẩn sâu trong từng câu thơ. Bài thơ Rằm tháng giêng cũng cho thấy được phong thái ung dung, tinh thần lạc quan trong mọi hoàn cảnh của Bác, Bác phải có tâm hồn lạc quan, yêu thiên nhiên thì mới viết nên những vần thơ hay và lay động lòng người như vậy.

Bài 2:

Bác Hồ vị lãnh tụ dân tộc con người giản dị và tài giỏi, bên cạnh đó Bác cũng là một thi sĩ với hồn thơ tài hoa. Bác để lại nhiều bài thơ giá trị cho nền thi ca nước nhà. “Rằm tháng Giêng” là một tác phẩm có giá trị và được nhiều người biết đến. Sau chiến dịch Việt Bắc 1947 quân ta dành ưu thế trước thực dân Pháp. Trong hoàn cảnh đó bài thơ xuất hiện như tiếp thêm tinh thần cho quân và dân ta, đồng thời thể hiện được tấm lòng của con người cách mạng vì nước vì dân của Bác Hồ.

Bản dịch:

Rằm xuân lồng lộng trăng soi

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

Rằm xuân lồng lộng trăng soi.

Câu đầu tiên đó là ánh trăng đêm chiếu tỏa bao la trong đêm xuân. Hình ảnh ánh trăng được dùng rất nhiều trong các bài thơ Bác, nếu để ý các bài thơ của Bác ánh trăng xuất hiện như người bạn tri kỷ.

Câu thơ tiếp:

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

Từ “xuân” lặp lại tạo ra không gian tràn đầy sắc xuân. Sông, nước, ánh trăng khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp làm cho không gian ngày xuân thêm rực rỡ.

Giữa dòng bàn bạc việc quân.

Sau khi Bác miêu cảnh thiên nhiên tựa như người thi sĩ ngắm trăng. Tuy nhiên 2 câu thơ sau cho thấy nỗi lòng của Bác, lo lắng cho tương lai cách mạng, Bác bàn bạc việc quân ở trên thuyền. Bác như giao hòa với thiên nhiên tuyệt sắc. Người luôn hết lòng vì nước vì dân. Công việc bộn bề nhưng Bác vẫn không quên thưởng thức thiên nhiên, thể hiện  sự lạc quan của người cách mạng trong hoàn cảnh chiến tranh.

Câu thơ cuối:

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

Con thuyền là ẩn dụ về thắng lợi của cách mạng. Con thuyền chứa đầy ánh trăng báo hiệu cho ngày chiến thắng không còn xa nữa. Câu thơ thể hiện được sự lạc quan, niềm tin về ngày chiến thắng của cách mạng.

Bài thơ Rằm tháng Giêng là một bài thơ hay của Bác, bài thơ miêu tả không gian thiên nhiên tuyệt đẹp trong mùa xuân. Bác và chiến sĩ bàn bạc việc quân ngay trên thuyền. Đồng thời thể hiện sự lạc quan vào tương lai của cách mạng.

Bài làm

Trong niềm hân hoan chiến thắng sau chiến dịch Việt Bắc – Thu Đông năm 1947, Hồ Chủ tịch đã viết nên bài thơ Nguyên tiêu, hay còn gọi là Rằm tháng giêng. Bài thơ thể hiện không khí tươi vui chiến thắng cùng niềm hạnh phúc khi sắc xuân đang ngập tràn trên đất nước ta. Đọc bài thơ, ta cảm nhận được tâm trạng phấn khởi của Người cũng như tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống tha thiết khi mùa xuân đang tới.

Hai câu thơ đầu của bài thơ đã nói vẽ lên khung cảnh thiên nhiên vô cùng đẹp:

“Rằm xuân lồng lộn trăng soi

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân”

Hồ Chủ Tịch được biết đến là một con người yêu thiên nhiên, luôn khao khát được hòa nhập với thiên nhiên và trong thơ của Người luôn xuất hiện hình ảnh vầng trăng. Trăng như là một người bạn tri ân, tri kỉ của Bác. Có lẽ vì vậy mà ta thấy hình ảnh trăng luôn xuất hiện với tần xuất dày đặc trong các bài thơ của Người. Và trong hoàn cảnh đặc biệt như vậy, khi đất nước thắng lợi thì hiển nhiên cũng không thể thiếu được vầng trăng. Trăng xuất hiện như để chia vui, để đồng hành cùng người chiến sĩ, người thi sĩ trong những chặng đường đã qua và sắp đến. Hẳn mỗi chúng ta vẫn còn nhớ hình ảnh vầng trăng trong đêm khuya thanh tĩnh khi Người đang phải lo nghĩ cho đất nước:

“Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

Chưa ngủ vì nỗi lo nước nhà”

Nếu như hình ảnh trăng khi ấy đẹp và tròn đầy, như thao thức cùng Người vì nỗi lo cho đất nước thì giờ đây khi chiến thắng trăng vẫn ở đó, hân hoan, chia vui cùng người. Không những vậy, trăng trong ngày rằm thì chắc chắn sẽ tròn hơn những ngày bình thường, và đẹp hơn trong mắt một người đang vui, đang hạnh phúc. Câu thơ thứ hai là sự hòa quyện giữa dòng sông và bầu trời, hai chủ thể thiên nhiên tuy tách biệt nhau nhưng cùng chung màu sắc, một màu xanh của hòa bình, của chiến thắng hân hoan. Ta cảm nhận được thiên nhiên lúc này như cũng muốn chia vui cùng con người, và con người cũng đang hòa nhập vào thiên nhiên. Đây không phải là một đêm trăng rằm bình thường, mà là một đêm lịch sử ghi dấu ấn chiến công của dân tộc ta. Sắc xuân của đất trời cũng chính là sức sống mạnh mẽ, tiềm tàng, mãnh liệt của đất nước.

Hai câu thơ cuối của bài thơ tiếp tục là hình ảnh vầng trăng nhưng được miêu tả sóng đôi với con thuyền:

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”

Ta thấy được vầng trăng trong thơ của Bác xuất hiện thật đa dạng, từ những khi một mình, thảnh thơi cho đến lúc bận rộn bàn chuyện nước. Người đang cùng những người chiến sĩ khác bàn bạc về việc quân, để tiến đến bảo vệ Tổ Quốc. Đây quả là một hoàn cảnh đặc biệt nhất mà trăng từng được xuất hiện ở thơ của Bác. Ánh trăng đêm khuya soi xuống dòng nước, đập vào mạn thuyền tạo nên một khung cảnh rất lãng mạn. Khung cảnh chính trị lại được đặt trong sự lãng mạn, rất tài tình và độc đáo.

Thông qua bài thơ ngắn với chỉ 4 câu thơ, ta cảm nhận vẻ đẹp tuyệt diệu của vầng trăng vào Ngày rằm tháng giêng – ngày chiến thắng lịch sử của dân tộc. Bác Hồ không chỉ vẽ nên bức tranh thiên nhiên đẹp, thơ mộng mà còn gửi gắm vào đó niềm vui, cảm xúc của mình trong ngày vui trọng đại này. Ta thấy thêm kính yêu và trân trọng vị lãnh tụ của dân tộc!

Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài Rằm tháng giêng

bài làm

“Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp

Mây. gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông”

Trong thơ ca xưa, “trăng” luôn là một trong những thi liệu gần gũi, quen thuộc để người nghệ sĩ thể hiện tâm hồn đồng điệu, giao cảm với thiên nhiên. Bởi vậy, trong những sáng tác của Bác, “trăng” luôn là nguồn cảm hứng bất tận tạo nên vẻ đẹp thi sĩ quyện hòa chất chiến sĩ trong tâm hồn của chủ thể trữ tình. Điều này đã được thể hiện rõ thông qua thi phẩm “Rằm tháng giêng”. Qua bài thơ, độc giả có thể thấy được tình yêu thiên nhiên quyện hòa cùng tình yêu non sông, đất nước, niềm tin vào chiến thắng của dân tộc trong mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình.

Bài thơ “Rằm tháng Giêng” ra đời vào năm 1947, gắn với cuộc họp tổng kết về tình hình quân sự, kháng chiến, cách mạng của Trung ương Đảng và Chính phủ. Theo nguyên tác, bài thơ được sáng tác theo thể thất ngôn tứ tuyệt với tựa đề “Nguyên tiêu”:

“Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,

Xuân sang xuân thủy tiếp xuân thiên.

Yên ba thâm xứ đàm quân sự,

Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.”

Bài thơ được nhà thơ Xuân Thủy dịch nghĩa và chuyển hóa thành thể thơ lục bát:

“Rằm xuân lồng lộng trăng soi

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.​”

Mở đầu bài thơ, tác giả đã phác họa bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp qua ánh trăng lung linh, huyền ảo:

“Rằm xuân lồng lộng trăng soi

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân”

Bức tranh trong đêm trăng được diễn tả qua những nét vẽ gợi hình về thiên nhiên tạo vật. Tác giả đã sử dụng từ “lồng lộng” để miêu tả ánh trong trong đêm “Rằm tháng giêng” với vẻ đẹp tròn đầy cùng ánh sáng ấm áp bao trùm và chiếu rọi khắp không gian, tạo nên cách cảm nhận độc đáo: “Sông xuân nước lẫn bầu trời thêm xuân”. Ánh trăng lan tỏa soi chiếu theo chiều kích không gian từ cao xuống thấp tạo nên một bức tranh tràn ngập sức xuân và sắc xuân: sông xuân, nước xuân, trời xuân cùng giao hòa, mở ra ý niệm độc đáo về niềm tin và sức sống. Trên bối cảnh thiên nhiên tươi đẹp đó, hình ảnh người chiến sĩ cách mạng xuất hiện:

“Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”

Hai câu thơ gợi lên sự giao hòa đồng điệu giữa thiên nhiên và con người. Trước vẻ đẹp của trăng nước, nhân vật trữ tình vẫn không quên đi nhiệm vụ “đàm quân sự”. “Thưởng trăng” và “bàn bạc việc quân” cùng song hành quyện hòa gợi lên mối quan hệ giữa thiên nhiên và non sông đất nước, đồng thời thể hiện niềm tin tưởng, hi vọng vào chiến thắng của cách mạng và sự nghiệp giải phóng dân tộc. Con thuyền tràn ngập ánh trăng đã thể hiện chất thi sĩ và chiến sĩ trong tâm hồn nhân vật trữ tình. Từ đó, độc giả có thể thấy được vẻ đẹp lạc quan cách mạng cùng tình yêu thiên nhiên của tác giả.

Như vậy, bài thơ “Rằm tháng Giêng” đã tái hiện thành công bức tranh thiên nhiên mùa xuân trong đêm trăng với vẻ đẹp lung linh huyền ảo và ngập tràn sức sống. Đồng thời, bài thơ còn là bức chân dung tự họa thể hiện tinh thần lạc quan cách mạng, phong thái ung dung và tình yêu thiên nhiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Phát biểu cảm nghĩ về bài Rằm tháng giêng

Ai đó từng nói rằng, ẩn sâu trong Hồ Chí Minh là chất thơ rất riêng, rất hiện đại gửi vào trong một hình thức thơ cổ kính và có khả năng gây xúc động mạnh mẽ. Qủa đúng thế. Dường như sức mạnh ấy thể hiện rõ nét nhất qua bài thơ Rằm tháng giêng.

“Bên cạnh những cảnh trời chiều bình yên hoặc xao động, những cảnh trời đêm rực rỡ ánh trăng, thơ Bác cũng rất nhiều những cảnh ban mai tràn đầy khí thế.”. Qủa đúng, có một trời đêm khiến người ta nhớ mãi:

“Kim dạ nguyền tiêu nguyệt chính viên

Xuân giang xuân thuỷ tiếp xuân thiên”

Không thể có được những nét bút chấm phá đầy sống động như thế nếu không có một trái tim đã hòa chung nhịp đập với thiên nhiên. Trong thơ Bác, mỗi thời khắc đều để lại những ấn tượng mới mẻ, độc đáo với thi tứ đặc sắc, thi hứng nồng nàn. Ở đây, tâm điểm của khung cảnh đặt giữa không gian và thời gian là vầng trăng tròn đầy, viên mãn đang ngự gọn gàng nơi trung tâm của vũ trụ bao la. Từ “xuân” điệp lại không chỉ mang sắc xuân, hơi xuân, tình xuân mà còn có hương xuân nồng nàn, mê đắm. Chính nó đã thổi vào hơi thở mới để con người cũng phập phồng những gấp gáp như muốn ôm lấy cho trọn, cho đầy để hít hà sức xuân mà “sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân”. Như vậy, qua câu thơ không chỉ có tính nhạc mà còn đầy tính họa ta bắt gặp những màu sắc vừa cổ điển, vừa hiện đại, một màu sắc riêng không trộn lẫn của ngòi bút Hồ Chí Minh.

“Yên ba thâm xứ đàm quân sự

Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền”

Chúng ta không những thấy cảm nhận về không gian sâu thẳm mịt mù khói sóng mà còn hiểu được dòng tâm trạng của thi nhân trong bước lưu chuyển của thời gian. Khi việc nước đã định, việc quân đã bàn, nhà thơ quay trở về thì  “trăng ngân đầy thuyền”. Đây không phải lần đầu tiên trăng xuất hiện trong thơ Bác như lại là một hình ảnh thơ đẹp, một ý thơ hay. Ở tận nơi thâm sâu cùng cốc, mịt mù trời đêm, trên chiếc thuyền lênh đênh, một mảnh trăng lơ đãng, không gian và ngôn từ đã phát sáng. Đó là vầng trăng dịu dàng như ánh sao đêm đang vỗ về mặt sông để tia sáng lấp lánh trên đầu ngọn nước làm cõi trần thơ mộng như cõi tiên. Mỗi người đang bàn việc quân như những tiên ông đang bình yên giữa cõi tiên ngay trên cõi trần. Dường như ánh sáng cứ lan tỏa ra để con thuyền cách mạng trở thành con thuyền thơ ca, những người chiến sĩ trở thành những thiên sứ để chất thơ cứ trải dộng ra từ con thuyền đến mặt nước, từ mặt nước đến lòng người.

Mỗi vần thơ của Bác được viết lên đầy thản nhiên, khách quan mà ẩn chứa bao nỗi niềm tâm sự. Chính phẩm chất nhân văn, chất nghệ sĩ trong con người Bác đã đưa Người lên tầm vóc danh nhân văn hóa của nhân loại.

Cảm nhận về bài thơ “Rằm tháng giêng”

Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà lãnh tụ vĩ đại, một người cha già đầy lòng nhân ái của dân tộc Việt Nam. Với tâm hồn đầy nhạy cảm, cùng tài năng nghệ thuật độc đáo, Người con là một nhà văn, nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam. Hồ Chí Minh đã có rất nhiều những sáng tác có giá trị cao cả về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật, giá trị thẩm mĩ. Nếu theo dõi toàn bộ sự nghiệp văn chương của người, ta có thể thấy ánh trăng xuất hiện khá nhiều trong các trang thơ của Bác. Hay nói cách khác, hình ảnh ánh trăng gợi cho Bác nhiều nguồn cảm hứng nghệ thuật và để lại dấu tích trong các áng thơ văn của Người với nhiều sắc thái, chiều kích khác nhau, để thể hiện những nguồn cảm hứng, tư tưởng riêng của Người. Và bài thơ Rằm tháng giêng là một bài thơ như thế.

Rằm tháng giêng là bài thơ lấy cảm hứng thì ánh trăng rằm, qua bài thơ Người khắc hoạ thành công bức tranh thiên nhiên tuyệt mĩ dưới ánh trăng đêm, đồng thời qua đó lồng ghép những xúc cảm thẩm mĩ của mình một cách khéo léo. Điều đặc biệt, dưới ánh trăng Rằm ấy, hình ảnh của Hồ Chí Minh hiện lên không chỉ với tư cách của một người thi sĩ yêu đời, dạt dào cảm xúc, mà còn hiện lên với tư cách của một người chiến sĩ cách mạng nhiệt huyết, trung thành hết mực với sự nghiệp cách mạng của nhân dân, của đất nước:

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

Mở đầu bài thơ, Hồ Chí Minh đã mở ra một không gian tuyệt mĩ, khoảnh khắc tươi đẹp của một đêm rằm mùa xuân. Không gian như được trải dài ra bát ngát, mênh mông theo không gian rộng lớn của đất trời “Rằm xuân lồng lộng trăng soi”. Mùa xuân là mùa tươi đẹp nhất trong năm, mùa của trăm hoa, vạn vật đua nở, không chỉ khoảnh khắc ban ngày mới gợi lên những nguồn cảm hứng dạt dào. Mà ngay cả khoảnh khắc ban đêm, khi ánh trăng bao trùm lấy không gian thì cảnh sắc của đất trời lại hiện lên mới một hình dáng độc đáo, tươi đẹp hoàn toàn mới lạ. Và với con mắt đầy tinh tế, sự cảm nhận đầy nhạy cảm, Hồ Chí Minh đã thu trọn không gian này vào tầm mắt của mình.

“Rằm” là khoảng thời gian trăng tròn nhất, sáng nhất trong một tháng. Ở đây hình ảnh ánh trăng mùa xuân hiện lên đầy sức gợi cảm, bởi nó gợi ra cho người đọc không chỉ có những liên tưởng về mặt thị giác mà còn kích thích cảm giác, đó chính là cảm giác muốn được chiêm ngưỡng, muốn được thưởng ngoạn. “Lồng lộng” gợi ra diện không gian rộng lớn mà ánh trăng bao phủ, đồng thời cũng gợi ra cái thăng hoa về cảm xúc của người thi nhân. Dưới ánh trăng Rằm sáng vằng vặng của đêm xuân, từng tia sáng chiếu xuống mặt đất đều tạo ra một sự rung động, giao hoà với mọi vật. Vì vậy từ lồng lộng ta còn hiểu như một sự tác động mạnh mẽ, làm cho hoạt động “soi” thêm sinh động, gợi cảm.

“Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân”, nếu như ở câu thơ đầu có sự giao hoà giữa ánh sáng và bầu trời thì đến câu thơ này, sự giao hoà ấy được mở rộng, nhân rộng hơn. Dòng sông mùa xuân vốn trong xanh, tươi đẹp, nhưng dưới sự phản chiếu của ánh sáng trăng Rằm thì cái vẻ đẹp vốn có ấy được đẩy lên mức tuyệt mĩ. Dưới ngòi bút miêu tả của Hồ Chí Minh, dường như dòng nước với ánh trăng đã hoà quyện làm một, chúng giao thoa với nhau hài hoà, tinh tế. Do đó mà dòng sông xuân vốn tươi đẹp nay lại hoà thêm sắc trời xuân thì càng rực rỡ, độc đáo hơn. Đặc biệt, mối quan hệ của dòng sông và bầu trời là mối quan hệ hai chiều. Không chỉ ánh trăng làm cho mặt nước thêm đẹp mà chính mặt nước cũng tôn lên vẻ đẹp của ngày xuân.

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

Qua hai câu thơ này, ta có thể hiểu được vì sao Hồ Chí Minh lại có thể quan sát và cảm nhận tinh tế đến vậy vẻ đẹp của đêm trăng Rằm, bởi vị trí thưởng ngoạn của bác là ở giữa dòng, vị trí chính giữa của dòng sông, nơi có điều kiện quan sát toàn vẹn cảnh vật trên bầu trời cũng như dưới dòng sông xanh thẳm. Nhưng Bác ngồi thuyền trên sông không đơn thuần chỉ là ngắm cảnh mà “bàn việc quân”. Với địa vị là một người lãnh đạo, một vị lãnh tụ của phong trào cách mạng ta có thể hiểu địa điểm bàn bạc đặc biệt này. Vì là việc Cách mạng, việc của dân của nước nên không thể có bất kể sự sơ sót nào, bàn bạc trên sông là đảm bảo tính bí mật, thể hiện tính hệ trọng của việc nước.

Trong không gian hội họp thường có không khí căng thẳng, trang nghiêm, nhưng dưới ngòi bút của Bác thì dường như không gian hội họp ấy dường như có chút lãng mạn, thi vị đầy chất thơ. Khi việc quân đã bàn bạc xong,con thuyền đưa những người chiến sĩ trở về thì cũng là lúc ánh trăng soi rọi làm sáng cả con thuyền “trăng ngân đầy thuyền”. Câu thơ thể hiện được sự giao hoà giữa lòng người và vũ trụ, như một sự đồng cảm, cổ vũ của thiên nhiên với con người, mang niềm tin vào vận nước nhất định sẽ thành công, sẽ thắng lợi.

Rằm tháng giêng là một bài thơ hay và giàu sức biểu hiện. Qua đó Hồ Chí Minh không chỉ khắc hoạ được không gian hùng vĩ, tươi đẹp của cảnh sắc trong đêm rằm mùa xuân mà còn làm nổi bật lên hình ảnh của một người thi nhân tinh tế, một người chiến sĩ cách mạng một lòng vì dân,vì nước. Cùng với đó là nguồn cảm hứng lãng mạn đầy độc đáo, điều mà ta chưa từng thấy trong những áng văn viết về chính sự, vận nước trước đây.

Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ “Rằm tháng giêng” của chủ tịch Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam ta. Là người tiên phong dẫn lối cho đất nước ta bước ra khỏi tấm màn đen của đêm trường nô lệ. Đó là những điều người người nói đến khi nhắc về Hồ Chủ tịch. Thế nhưng, bên cạnh đó, Người còn là một nhà thơ, một người nghệ sĩ đích thực với tâm hồn nhạy cảm và những tác phẩm giàu giá trị. Trong đó, chúng ta không thể không nhắc đến bài thơ Rằm tháng giêng.

Đây là một tác phẩm thơ được viết bằng chữ Hán theo thể thất ngôn tứ tuyệt đường luật quen thuộc. Ngay cả cấu tứ bài thơ cũng không có gì quá mới khi hai câu thơ đầu dành để tả cảnh, hai câu thơ sau ngụ tình, tả người. Nhưng bằng tài năng, bằng trái tim nhạy cảm nhà thơ đã vẽ nên những câu thơ với hình ảnh hấp dẫn, sống động, và những ý thơ dạt dào tình cảm, ý nghĩa.

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,

Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên.

Mở đầu bài thơ là hình ảnh thiên nhiên vô cùng tươi đẹp. Đó là vào một đêm của mùa xuân, khi mặt trăng tròn đầy viên mãn ngự trị trên trời cao. Ấy là lúc khắp đất trời sung sướng mà vẫy vùng trong bể trăng đầy ăm ắp. Cái thứ ánh sáng trắng ngọc trắng ngà ấy phủ lên những lớp vàng, bạc óng ánh. Khiến cho đất trời như đẹp hơn, tình tứ hơn. Bởi vậy, mà sắc xuân, hương xuân cũng thấm đẫm hơn trên cảnh vật. Dòng sông, con nước, bầu trời không còn là nó của ngày hôm qua nữa. Mà khoác lên mình tấm áo mới, trở thành sông xuân, trời xuân. Hình ảnh thơ khiến người đọc lâng lâng trong cảm giác khi xuân chín nục, tỏa ngát thơm hương. Bầu trời, dòng sông được mùa xuân thấm đượm, lồng vào nhau, dây dưa khó phân. Mà có lẽ cũng chẳng cần phân tách, nên chúng cứ thế mà đan vào nhau, tuy hai mà một. Cả bức tranh thiên nhiên trở nên rộng lớn và thoáng đãng khi cả đất trời ngự về trên dòng thơ. Và từng hơi thở cũng vì thế mà nhẹ nhàng, mê say hơn, khi sắc xuân đương nồng thắm, sinh động mà luân chuyển, mà chảy âm ỉ trong lòng thơ.

Trong khung cảnh mê say ngây ngất ấy, hình ảnh con người hiện lên ẩn sau hình ảnh chiếc thuyền trôi giữa con sông. Điều đặc biệt là, những con người ấy đến nơi đây không phải để thưởng nguyệt hay đọc thơ mà là để làm việc:

Yên ba thâm xứ đàm quân sự,

Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.

Những con người trong chiếc thuyền đấy là những người chiến sĩ đang tập trung để bàn bạc việc quân sự, để bảo vệ tổ quốc. Tinh thần ấy, không chút nào bị tác động, bị lay chuyển, dù là cảnh sắc tươi đẹp ở bên ngoài thuyền. Các chiến sĩ ấy bàn bạc việc quân miệt mài đến tận đêm khuya vẫn chẳng dừng lại. Đến tận quá nửa đêm, khi ánh trăng đã tắm đẫm cả con thuyền vẫn còn miệt mài suy nghĩ.

Hình ảnh ánh trăng trải đầy thuyền là một hình ảnh vô cùng thơ mộng. Ánh trăng như một người bạn, một người đồng chí luôn ở bên quan tâm, đồng hành cùng các chiến sĩ. Hình ảnh trăng – người chiến sĩ là cặp hình ảnh song hành quen thuộc trong các tác phẩm thơ của chủ tịch Hồ Chí Minh. Nó thể hiện sự gắn kết giữa con người và thiên nhiên, luôn ở bên, sát cánh cùng nhau. Ngoài ra, bức tranh sáng rọi của ánh trăng, còn thể hiện một niềm tin vững chắc về tương lai tươi sáng ở phía trước của đất nước ta. Đó là một tương lai hạnh phúc, độc lập, bình yên, như khuôn trăng tròn đầy ở trên kia.

Bài thơ Rằm tháng giêng đã xây dựng nên một đêm trăng mùa xuân tươi đẹp, hấp dẫn. Cả bài thơ khắc họa nên bầu không gian rộng lớn, thoáng đãng, trong đó xuất hiện hình ảnh con người tuy nhỏ bé, nhưng khó để bỏ qua được. Từ đó, thể hiện được tài năng, tâm thế của tác giả. Đó là một trái tim tràn đầy tình yêu thiên nhiên, nhưng vẫn không quên nhiệm vụ đối với tổ quốc. Thật không sai khi gọi Hồ Chí Minh là “nhà thơ chiến sĩ”.

Viết đoạn văn ngắn phát biểu cảm nghĩ của em về bài Rằm tháng giêng

Bài thơ “Rằm tháng giêng” Bác đã vẽ ra bức tranh ngày xuân tuyệt đẹp và có nhiều điều trăn trở về vận mệnh ẩn sâu trong từng câu thơ. Hình ảnh ánh trăng thường được sử dụng trong thơ Bác như một người bạn tri âm tri kỉ. Ở đây, ngay trong đêm Rằm vẫn luôn dõi theo, bầu bạn với Bác. Ở hai câu thơ đầu cảnh thiên nhiên được Bác miêu tả quá sống động làm ta tưởng như Bác đang rất nhàn nhã ngắm trăng. Nhưng không, bác ngắm trăng trong một hoàn cảnh rất đặc thù, chơi vơi giữa dòng nước. Để tránh sự truy lùng của quân địch, Bác cùng các chiên sĩ phải bàn bạc việc quân ở trên thuyền. Và ở nơi đó, ngay giữa trung tâm của đất trời, hồn thơ của Bác như giao hòa với thiên nhiên để vẽ lên cảnh thiên nhiên tuyệt sắc. Đọc câu thơ ta thấy thầm thương Bác, Người luôn đau đáu tấm lòng vì nước vì dân. Công việc bộn bề nhưng Bác vẫn luôn yêu thiên nhiên cảnh vật. Điều đó cho ta thấy tư thế ung dung lạc quan yêu đời của người chiến sĩ cách mạng. Câu thơ cuối thể hiện một niềm lạc quan, niềm tin vô cùng với cách mạng. Bài thơ “Rằm tháng Giêng” là một bài thơ độc đáo của Bác Hồ. Bài thơ vừa thể hiện tình yêu thiên nhiên vô cùng của Bác đồng thời cũng nói lên tinh thần lạc quan giữa hoàn cảnh chiến tranh khắc nghiệt.

Bài Liên Quan:

Điều hướng bài viết

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang – Ngữ Văn 7

Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Qua đèo ngang, người đọc còn nhận ra rằng trước khoảnh khắc tắt nắng của một ngày, không gian mênh mông, hoang sơ và đời sống con người thì thưa thớt, vắng vẻ, tâm trạng của nhân vật trữ tình mới thêm trĩu nặng những nỗi niềm, tâm tư:

“Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,

Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.”

Trong hai câu thơ trên, bà Huyện Thanh Quan đã sử dụng điển tích về chim quốc quốc và chim gia gia. Theo chuyện xưa tích cũ, vua Thục Đế do bị mất nước nên rất đau lòng đến nỗi ngày đêm kêu gào và tiếng kêu cất lên chính là tiếng “quốc quốc” (nghĩa là đất nước) và về sau chim quốc quốc được xem là sự hóa thân của nhà vua mà thành. 

Đến khi qua đời, linh hồn hai người họ đã hóa thành chim đa đa và không ngớt lời kêu “bất thực cốc Chu gia” (nghĩa là “Không ăn thóc nhà Chu”). Từ gia xuất hiện trong tiếng kêu ấy lại đồng âm với từ gia (có nghĩa là nhà). Do vậy, khi nhắc đến hai điển tích về nghĩa tình sâu nặng đối với nước nhà của những nhân vật cổ xưa, dường như nhà thơ cũng muốn gửi gắm trong đó một nỗi niềm sâu kín về sự thay ngôi đổi vị trong thời đại của mình. 

Tâm trạng “nhớ nước”, “thương nhà” của nhà thơ đã làm toát lên một tấm lòng đáng trân trọng và cần được cảm thông. Bởi vì, trước khi đến Huế, nhân vật trữ tình đã có một khoảng thời gian dài sống và gắn bó với mảnh đất Thăng Long. Chính hình ảnh về vùng đất và con người nơi ấy đã in sâu vào tâm trí của nhà thơ. Nó đã trở thành một miền kí ức dạt dào để đến lúc rời xa, trong thâm tâm bà nảy sinh những cảm xúc “nhớ”, “thương” trên là điều không thể tránh khỏi. 

Do vậy, khi phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Qua đèo ngang ta thấy Đèo Ngang vốn đã hoang vắng, u tịch nhưng cũng không thể trở nên rộn rã, vui tươi hơn khi có sự xuất hiện của âm thanh tiếng chim. Bởi, tiếng kêu tha thiết, xót xa như vậy thì chỉ làm tăng thêm vẻ cô liêu, buồn vắng của cảnh vật. Tiếng kêu của những loài chim ấy là một cách ẩn dụ cho tiếng lòng của một tâm hồn hoài vọng về sự thịnh suy của triều đại đã qua.

Khi tâm trạng không thể cất giấu mãi hoài vào trong trong cảnh vật, tác giả đã bộc lộ nó một cách trực tiếp qua hai câu thơ cuối:

“Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,

Một mảnh tình riêng, ta với ta.”

Những câu thơ tiếp tục gợi ra sự đối lập giữa một con người nhỏ bé, đơn độc với sự rợn ngợp, bao la của non nước mây trời Đèo Ngang. Khi con người đã có dịp cùng trải qua bao thăng trầm với lịch sử dân tộc, con người ấy như bỗng nghiệm ra một điều: đời người chỉ là hữu hạn trong sự vô cùng của thiên nhiên, đất nước…

Cách cắt mảnh các hình ảnh “trời”, “non”, “nước” và những từ mang ý nghĩa riêng lẻ “một”, “mảnh”, “riêng”, “ta” đã làm nổi bật lên trên sự bất tận, bao la của tạo vật là nỗi trống vắng, cô đơn của con người. Con người ấy lại không thể tỏ bày cùng ai những nỗi niềm đang chất chứa mà chỉ có thể bầu bạn với chính mình (“ta với ta”) thì lại càng trở nên cô đơn, lẻ loi hơn bao giờ hết. 

Vốn là người đất Bắc nhưng khi thời thế thay đổi, một người phụ nữ dù có mạnh mẽ đến đâu nhưng khi đặt chân đến một vùng đất mới, nhận nhiệm vụ mới của một triều đại mới thì làm sao không khỏi nhớ về gia đình và tiếc nuối về một triều đại đã tàn lụi. Do vậy, khi đứng trước ranh giới giữa hai miền đất – một đã từng gắn bó sâu đậm, một lạ lẫm mới mẻ, có tâm sự nhưng không biết thổ lộ cùng ai, bà Huyện Thanh Quan đã chọn cách gửi hết cái tình của mình vào cảnh trong phút “dừng chân đứng lại” hướng tầm mắt lên khắp cảnh vật bao la.

8 Bài Văn Phát Biểu Cảm Nghĩ Bài “Vượt Thác” Của Võ Quảng Hay Nhất

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Vượt thác” số 8

Đúng như tên của văn bản: Vượt thác, sau khi miêu tả dòng Thu Bồn và cảnh quan hai bên bờ theo hành trình của con thuyền, tác giả đã tập trung miêu tả cảnh vượt thác. Qua ngòi bút của tác giả, người đọc đã cảm nhận được vẻ đẹp và sức mạnh phi thường, quyết tâm vượt thác của con người mà chủ yếu là nhân vật dượng Hương Thư trên nền thiên nhiên hùng vĩ.

Cảnh vượt cổ cò đã gây ấn tượng mạnh mẽ bởi sự hung dữ của thác nước và sự dũng mãnh phi thường của con người. Lượng Hương Thư cùng chú Hai và Cù Lao liên tục phóng sào tre được bịt sắt xuống dòng sông. Soặc! Soặc! Con người đã dùng hết sức lực chống lại dòng thác. Dượng Hương Thư ghì chặt đầu vào, trụ lại, sào uốn cong. Thuyền vùng vằng như muốn trụt xuống, quay đầu về làng. Một loạt động từ mạnh trụ, ghi, phóng, uốn được dùng phù hợp với công việc nặng nhọc, khẩn trương của người lái, người chèo. Đặc biệt từ láy cùng bằng dùng rất đắt diễn tả sự cố gắng chống chọi của con người, sự ngang ngược của dòng thác, sự khó bảo của con thuyền…

Miêu tả con người trong cuộc chiến với thác dữ, nhà văn còn dùng nhiều phép so sánh nghệ thuật. Có so sánh bằng thành ngữ dân gian những động tác thi sáo, rút sào rập bằng nhanh như cắt. Nhưng nhiều hơn là những so sánh bằng những hình ảnh hợp lí góp phần vào việc khắc hoạ vẻ đẹp rắn chắc và dũng mãnh của người lao động như một pho tượng đồng đúc. Hình ảnh so sánh tô đậm vẻ đẹp của dượng Hương Thư của con người sẵn sàng vượt thác.

Cách so sánh không có gì mới lạ mà ta vẫn thường gặp Chị lao công như sắt như đồng (Tố Hữu), nhưng đã đem đến cho người đọc một hình ảnh của người lao động mà đâu đó ta vẫn gặp trong cuộc sống đời thường. Dượng Hương Thư còn hiển hiện lên như một anh hùng thời xưa với tầm vóc và sức mạnh phi thường giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ. Phải chăng sức mạnh đó đã làm nổi bật cái “thân” nhằm tôn vinh hình ảnh con người trước thiên nhiên hùng vĩ.

Một sự “đột phá” nữa trong nghệ thuật so sánh của Võ Quảng đã gây sự chú ý cuốn hút người đọc đó là dượng Hương Thư ở nhà nói năng nhỏ nhẹ, tính nết nhu mì, ai gọi cũng vâng vâng dạ dạ. Sự đối lập này càng làm nổi bật vẻ đẹp hùng dũng của nhân vật. Đồng thời nhà văn hé mở cho chúng ta hiểu biết thêm những đức tính đáng quý của người lao động: khiêm tốn, nhu mì trong cuộc sống đời thường.

Có thể nói nhờ sự quan sát tinh tế, miêu tả cụ thể bằng những hình ảnh so sánh vừa mới lạ, vừa sáng tạo độc đáo nhà văn đã tái hiện hình ảnh Dương Hương Thư lúc vượt thác. Người đọc cảm nhận được nhiều nét đẹp của người lao động chân chính như: phi thường, dũng mãnh, khoẻ khoắn nhưng lại hết sức khiêm nhường, giản dị. Đó cũng chính là những nét đẹp tiêu biểu của con người Việt Nam.

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Vượt thác” số 7

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Vượt thác” số 8

Vượt thác là một đoạn trích ngắn trong truyện Quê nội của nhà văn Võ Quảng. Với trích đoạn ngắn tác giả đã đưa người đọc đến với khung cảnh thiên nhiên vừa hiền hòa vừa hung bạo dọc hai bên dòng sông Thu Bồn. Nhưng nổi bật hơn cả, tác giả để lại ấn tượng sâu sắc nhất là hình ảnh những người lao động nơi đây mà điểm nhấn nằm ở chân dung dượng Hương Thư khỏe mạnh, oai phong trong quá trình vượt thác.

Đoạn trích kể về công cuộc vượt thác đầy nguy hiểm, vất vả mà cũng thật oai phong, hùng dũng của dượng Hương Thư. Để chuẩn bị cho hành trình vượt thác, dượng Hương đã nấu cơm ăn trước cho chắc bụng, những chiếc sào tre bịt đầu sắt đã sẵn sàng. Bước vào quá trình vượt thác, dượng Hương Thư đã ngay lập tức phải đối đầu với con thác lớn, nước to cứ thế chồm lên, dượng Hương Thư đánh trần phóng chiếc sào đã chuẩn bị xuống nước “nghe tiếng soạc”, cả người dượng Hương ra sức cản lại thế nước dữ, đến nỗi chiếc sào cũng bị uốn con. Con thuyền thoáng chút sợ hãi trước sức mạnh ghê gớm của thác nước cứ “chực trụt xuống quay đầu lại” .

Biện pháp nhân hóa khiến cho cả câu văn trở nên sinh động hẳn lên, không chỉ mô tả sự lo lắng của con thuyền mà đó còn chính là nỗi lo lắng của dượng Hương Thư. Liệu sức người có thể địch nổi lại với sức nước? Chỉ mất vài giây ngắn ngủi, dượng Hương đã lấy lại tư thế làm chủ, đây có lẽ là đoạn văn hay nhất, đẹp nhất để miêu tả về dượng Hương Thư: “Những động tác thả sào, rút sào rập ràng nhanh như cắt. Thuyền cố lấn lên. Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt cuồn cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa, ghì lên ngọn sào như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ” . Chỉ trong một vài câu văn ngắn tác giả đã sử dụng hàng loạt các biện pháp so sánh: nhanh như cắt, như pho tượng đồng đúc, như hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ, mức độ so sánh ngày càng tăng tiến, khẳng định vẻ đẹp của dượng Hương Thư.

Dượng Hương mang trong mình vẻ đẹp của sự nhanh nhẹn, khỏe mạnh, rắn rỏi, dượng Hương chẳng khác nào một người hiệp sĩ vĩ đại đang chiến đấu chống lại cái ác, cái xấu. Không chỉ vậy, Võ Quảng còn rất tinh tế khi sử dụng ngôn từ với việc dùng các động từ mạnh: thả sào, rút sào, lấn lên, các từ miêu tả nhân vật: cuồn cuộn, cắn chặt, bạnh ra, nảy lửa, … càng chạm khắc rõ nét hơn nữa vẻ đẹp oai phong, lẫm liệt của người kị mã trong quá trình vượt thác. Dượng Hương Thư khi vượt thác khác hẳn với khi ở nhà, lúc nào cũng nhỏ nhẻ, tính nết nhu mì, ai gọi cũng dạ vâng. Bằng kinh nghiệm dày dặn, bằng sức mạnh phi thường dượng Hương Thư và mọi người đã chiến thắng dòng nước dữ, vượt thác thành công. Mặc dù thở không ra hơi nhưng ai cũng sung sướng vứt sào.

Để xây dựng chân dung dượng Hương Thư, Võ Quảng đã vận dụng, kết hợp linh hoạt các biện pháp nghệ thuật. Trước hết là những hình ảnh so sánh sinh động: nhanh như cắt, như pho tượng đồng đúc, như hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ. Ngoài ra lớp ngôn ngữ giàu chất tạo hình: cuồn cuồn, nảy lửa,.. sử dụng hệ thống động từ đa dạng phong phú; cùng với đó là việc sử dụng linh hoạt các thành ngữ: nhanh như cắt,… đã giúp tác giả khắc họa thành công vẻ đẹp rắn rỏi, nhanh nhẹn, gan dạ trong quá trình vượt thác của dượng Hương Thư.

Bằng con mắt quan sát tinh tường, sử dụng linh hoạt ngôn ngữ và các biện pháp nghệ thuật Võ Quảng đã xây dựng thành công chân dung dượng Hương Thư – đại diện tiêu biểu cho vẻ đẹp của người lao động Việt Nam. Họ có thể nhu mì, hiền lành khi ở nhà nhưng lại là những người anh hùng dũng cảm, nhanh nhẹn, quyết liệt trong cuộc việc, trước mọi khó khăn, thử thách trong cuộc sống. Qua nhân vật này, tác giả còn thể hiện niềm tự hào, ngợi ca sức mạnh của con người lao động trước thiên nhiên hùng vĩ.

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Vượt thác” số 7

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Vượt thác” số 6

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Vượt thác” số 7

Cảnh “Vượt thác” trích từ chương XI truyện dài “Quê nội” của nhà văn Võ Quảng. Con sông được nói đến là sông Thu Bồn thuộc tỉnh Quảng Nam. Cách mạng tháng Tám thành công, nhân dân làng Hòa Phước chủ trương xây trường học cho con em mình. Dượng Hương Thư được cắt cử đưa thuyền lên Dùi Chiêng mua gỗ đem về xây trường học. Đoàn đi Dùi Chiêng có bốn người: Dượng Hương Thư, chú Hai Quân và hai thiếu niên là Cù Lao và Cục. Cảnh vượt thác Cổ Cò được miêu tả và cảm nhận qua cảm xúc và tâm hồn của Cục. Đây là lần đầu tiên trong đời chú, một chuyến lên rừng, vượt thác đầy háo hức và thú vị. Chất thơ trên trang văn Võ Quảng dào dạt qua cảnh “Vượt thác” này.

Cảnh xuất phát rất gợi. Thuyền trưởng – dượng Hương “nhổ sào” khi “gió nồm vừa thổi”. Hình ảnh cánh buồm rất đẹp, đầy khí thế: “Cánh buồm nhỏ căng phồng”. Đó là cảnh “buồm căng gió lộng”.Con thuyền được nhân hóa “đang nhớ núi rừng” nên “rẽ sóng lướt bon bon”, như nóng ruột “phải lướt cho nhanh để về cho kịp”. Đó cũng là tâm trạng háo hức của chú bé Cục trong cuộc “viễn du” này.

Con thuyền ngược dòng, cảnh sắc thiên nhiên nối tiếp xuất hiện. “Ngã ba sông chung quanh là những bãi dâu trải ra bạt ngàn đến những làng xa tít”. Tác giả không nói đến chân trời, đến màu xanh, đến mênh mông của dòng sông mà ta vẫn cảm nhận được. Một miền quê trù phú trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa hiện ra gợi lên sự ấm no thanh bình. Tâm hồn mỗi chúng ta bâng khuâng liên tưởng. Một câu cổ thi: “Ngàn dâu xanh ngắt một màu…” (Chinh phụ ngâm). Một cảnh sắc làng quê bên hữu ngạn sông Đuống: “Xanh xanh bãi mía bờ dâu…” (Hoàng Cầm). Hoặc là ngã ba con sông La, quê hương nhà thơ Huy Cận thuộc Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh:

“Tới ngã ba sông, nước bốn bề,Nửa chiều gà lại gáy bên đê.Làng xa lặng lẽ sau tre trúc;Bến cũ thuyền em sắp ghé về…”. Gợi mở liên tưởng là một nét đẹp trong câu văn xuôi của Võ Quảng. Do đó, chất thơ từ cảnh vật, từ tâm hồn đồng hiện. Bé Cục nhìn thấy bao la cảnh lạ. Những con thuyền xuôi dòng “chất đầy cam tươi, dây mây, dầu rái”. Có những thuyền “chở mít, chở quế”. Con sông Thu Bồn là mạch máu, là nguồn sống xứ Quảng. Vì chở đầy, chở nặng lâm thổ sản, nên “thuyền nào cũng xuôi chậm chậm”. Một cuộc sống ấm no, một miền rừng hào phóng… Càng ngược dòng sông, cảnh sắc sông núi càng đầy sức sống, hữu tình nên thơ. Vườn tược tốt tươi “um tùm”. Những chòm cổ thụ “dáng mãnh liệt đứng trầm ngâm lặng nhìn xuống nước”. Cổ thụ được nhân hóa gợi tả vẻ đẹp hùng vĩ, thâm nghiêm của chốn đại ngàn rừng thiêng, rừng thẳm. Gần 200 năm về trước, một nữ sĩ tài ba đã viết:

“Xanh om cổ thụ tròn xoe tán,

Trắng xóa tràng giang phẳng lặng lờ”.

(Bà Huyện Thanh Quan)

Đã sắp đến chân thác rồi. Lòng sông như thắt lại. Tầm mắt người đi thuyền bị thu hẹp dần. “Núi cao như đột ngột hiện ra chắn ngay trước mặt”. Đó là lúc dượng Hương, chú Hai Quân, bé Cù Lao, bé Cục đã đưa con thuyền ngược dòng Thu Bồn đến Phường Rạnh. Mọi người, nhất là bé Cục đã “Đi một đoạn đàng học một sàng khôn”, đã nhìn thấy bao cảnh lạ của quê hương.3. Phần tiếp theo nói về cảnh vượt thác cổ Cò. Cuộc vượt thác thực sự là một cuộc chiến đấu căng thẳng, dữ dội. Vốn nhiều kinh nghiệm vượt thác băng ghềnh, vị thuyền trưởng “sai nấu cơm ăn để được chắc bụng”,phải chuẩn bị vì “nước còn to”, “phải chống liền tay không phút hở”.

Vũ khí là con thuyền và ba chiếc sào tre đầu bịt sắt. Dòng thác thật đáng sợ: “Nước từ trên cao phóng giữa hai vách đá dựng đứng chảy đứt đuôi rắn”. “Chảy dứt đuôi rắn” là cách nói so sánh của dân gian gợi tả dòng thác phóng từ cao xuống, nước chảy mạnh và xiết, cuồn cuộn như xoắn lại, như đứt tung ra. Dượng Hương Thư là người chỉ huy cuộc vượt thác trông thật đẹp, vẻ đẹp oai phong, gân guốc, mạnh mẽ. Người thì “đánh trần”. Động tác rất nhanh và mạnh: “co người phóng chiếc sào xuống lòng sông nghe một tiếng “soạc!”.Tư thế rất dẻo dai cường tráng: “ghì chặt trên đầu sào, lấy thế trụ lại,…”. Chiếc sào “conglại”.

Dượng Hương Thư đã “giúp cho chú Hai và thằng Cù Lao phóng sào xuống nước”. Giữa dòng thác “nước bị cản văng bọt tứ tung”, ba thủy thủ đã chèo chống cật lực, mà có lúc “thuyền vùng vằng chực trụtxuống, quay đầu chạy về lại Hòa Phước”.Con thuyền được nhân hóa để cực tả cuộc vượt thác vô cùng gian truân, vất vả, cả ba tay chèo rất thiện nghệ, phối hợp nhịp nhàng: “Những động tác thả sào, rút sào rập ràng nhanh như cắt”. “Nhanh như cắt” là thành ngữ gợi tả sự nhanh nhẹn, mạnh mẽ, sắc bén; những con sào lao xuống, phóng xuống, rút lên liên tục rất nhanh và dứt khoát. Dượng Hương Thư được đặc tả qua hàng loạt chi tiết như những nét khắc, nét tạc: Các bắp thịt thì “cuồn cuộn”, hàm răng thì “cắn chặt”, quai hàm thì “bạnh ra”, cặp mắt thì “nảy lửa”,…

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Vượt thác” số 5

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Vượt thác” số 6

Trích đoạn ngắn viết về con thuyền vượt thác, trên đó có bốn người: dượng Hương, cha con chú Hai và tôi – nhân vật phát ngôn cho cả nhóm. Những chuyến đi như thế có lẽ là câu chuyện thường nhật trong cuộc mưu sinh vất vả nhọc nhằn, nhưng với người kể là một em nhỏ (do tác giả hoá thân) thì lại như là một phát hiện. Những tinh khôi, đậm đà trong cảm nhận vì vậy mới có sức hút trước hết là với người kể, và qua lời kể mà đến với người nghe về một vùng sông nước miền Trung. Đoạn văn có ba cảnh – một chặng hành trình, nếu tách ra, có ý nghĩa riêng, còn đem nhập lại, ta có một bức tranh liên hoàn cùng trên một dòng chảy của con sông nghe tên thì hiền hoà nhưng lại không ít những “quanh quanh” ghềnh thác.

Con thuyền từ bến ra đi đầy khí thế. Nhưng bến ấy là bến nào, xuất phát từ đâu, con thuyền không để ý. Hình như nó chỉ biết đợi chờ và cái giờ phút đợi chờ kia đã đến: “Gió nồm vừa thổi, dượng Hương nhổ sào”. Câu văn gấp gáp, khẩn trương, kiệm lời, không thừa một tiếng. Nó im lặng đến lầm lì vì chất chứa trong lòng bao nhiêu hớn hở, dù chỉ là một “cánh buồm nhỏ” (vì là thuyền nhỏ) vẫn “căng phồng” náo nức, say mê. Đoạn văn nôn nao như là ra đi từ nỗi nhớ “Thuyền rẽ sóng lướt bon bon như đang nhớ núi rừng phải lướt cho nhanh để về cho kịp”. Đó là con thuyền tâm trạng, con thuyền tương tư.

Những chi tiết đời thường qua quan sát và liên tưởng đã đi vào nghệ thuật. Quá trình tái tạo và sáng tạo ấy là bản chất của văn chương. Bởi thế nên cảnh vật hai bên bờ được ống kính quay phim lia lướt rất nhanh. Nó chỉ thực sự dừng lại, chầm chậm, từ từ khi con thuyền đến ngã ba sông. Ở đây có đến ba chi tiết được đưa vào cận cảnh: những bãi dâu bạt ngàn ước lượng cái rộng lớn của không gian, những con đường chất đầy hương vị núi rừng đang xuôi dòng như chẳng có gì vội vã, và giữa um tùm vườn tược, những chòm cổ thụ hiện ra cùng những ngọn núi cao chắn ngang trước mặt.

Những chi tiết ấy vừa có hoạ (bức tranh cảnh vật ven bờ), vừa có nhạc (cái náo nức của những câu vãn lúc trào dâng, khi lắng đọng), tâm hồn người nhìn cảnh vật như thư giãn, khoan thai trước vẻ đẹp của thiên nhiên kì thú ấy. Cái phút thư thái, lãng du, mơ mộng chỉ chấm dứt để trở về cái thực hằng ngày với câu văn tín hiệu giống như một biển báo giao thông: “Đã đến Phường Rạnh”, Trước mát chỉ còn là một công việc, công việc đầy khó khăn không dễ chểnh mảng, vô tâm “Thuyền chuẩn bị vượt nhiều thác nước”.

Đến Phường Rạnh, cuộc vượt thác mới thật sự bắt đầu. Lặng lẽ hai bên nghênh chiến, về phía con người, hậu cần và vũ khí thật đơn giản, thô sơ như Sơn Tinh đánh giặc nước thuở nào. Chỉ một bữa cơm ăn cho chắc bụng với ba chiếc sào tre đầu bịt sắt cho thích hợp với sỏi đá dưới lòng sông. Vậy lấy gì để chiến thắng? Trong lúc trận địa thác thì mạnh mẽ, biến hoá và hiểm trở khôn lường: “Nước từ trên cao phóng giữa hai vách đá dựng đứng chảy đứt đuôi rắn”. Những động từ (phóng), tính từ (dựng đứng) cùng với cách nói ẩn dụ (chảy dứt đuôi rắn) phác hoạ chân dung một thứ thiên nhiên hoang sơ, mù quáng mang sức mạnh vô hình vốn có từ hàng ngàn năm, triệu năm đe doạ con người, nhất là kẻ nào dám dương đầu với nó.

Trong cuộc đấu trí, đấu lực dường như không ngang sức, ai sẽ là chủ nhân của vòng nguyệt quế vinh quang? Cả hai cứ lăn xả vào nhau theo cách đánh giáp lá cà, túm lấy thắt lưng nhau như vào sới vật. Cả hai đã vắt đến giọt sức cuối cùng. Phía chiếc thuyền, dượng Hương “đánh trần đứng sau lái co người phóng chiếc sào xuống lòng sông nghe một tiếng “soạc” ! Thép đã cắm vào sỏi !” Đó là cách đánh trúng và chắc, không khoa trương nhưng có hiệu quả. Một mình dương một mũi chủ công, phối hợp với hai cánh (chú Hai và thằng Cù Lao) tạo thành thế chân vạc vững như thành, đẩy con thuyền vượt thác.

Để hỗ trợ cho nhau, phải giữ vững trận địa, nhưng cái cách “giữ vững trận địa” của dượng Hương là quyết liệt hơn cả, phải chăng đó là vị trí của người đứng mũi? Chiếc sào tre chắc như thế, không hiểu sức lực ghì chống của dượng đến mức nào, chỉ thấy nó bị cong lại. Còn về phía đối phương, khi con thác rơi vào tình thế bị động, nó tức tối “văng bọt tứ tung” làm cho con thuyền không còn ổn định, thăng bằng, mà “vùng vằng cứ chực trụt xuống, quay đầu chạy về lại Hoà Phước”.

Trong trận chiến ác liệt ấy, nổi bật lên nhân vật dượng Hương, vừa là đại diện cho cả ba người vừa là sự kết tinh riêng cho những phẩm chất phi thường của con người luôn phải đối mặt với thác cao, sóng cả. Trước hết, khi xung trận, dượng như là một con người khác. Có một cái gì thần bí, trang nghiêm hem, đáng sùng kính hơn, người viết đã không thể gọi con người quen thuộc ấy bằng cái tên thường gọi. Phải là “Dượng Hương Thư” (một cách gọi đầy đủ) mới nói được tất cả sự ngạc nhiên cùng với lòng ngưỡng mộ. Người chiến thắng một kẻ thù như thế ! Phải gọi lên như thế ! Thứ hai, dượng có một vẻ đẹp bất ngờ. Câu văn sau đây là một bức phù điêu: “Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt cuồn cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa ghì trên ngọn sào giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ”.

Phần kết của đoạn văn vừa kể, vừa tả. Câu kể nói vé cuộc hành trình đã kết thúc: “Cho đến chiểu tối, thuyền vượt qua khỏi thác Cổ Cò”, vẻn vẹn chỉ một dòng nhật kí, giản dị vậy thôi nhưng là sự đơn sơ có hàm chứa: một cơn bão đã tan. Trận chiến vẻ vang, kết thúc thắng lợi, tất cả như đã thuộc vé quá khứ. Còn câu tả là những câu còn lại viết về người và cảnh ven sông. Trong số những tay sào, nếu nói tới những tay sào lão luyện, không thấy dượng Hương đâu? Hình như là dượng vẫn đứng ngồi đâu đó trên con thuyền nhỏ bé đó thôi, khi dòng thác đã trở lại là sông, “đồng ruộng lại mở ra”, vai trò của dượng đã lẫn vào bản tình ca – và lần này không cần người chỉ huy hay lĩnh xướng nữa (bản anh hùng ca đã chấm dứt). Hoặc cũng có thể hiểu dượng Hương đã hoá thân vào chú Hai lúc này. Từ hình tượng phi thường, người anh hùng đã trở lại trạng thái bình thường trong cái cử chỉ một mỏi, kiệt sức, rã rời rất thực (suốt buổi phải chống liền tay không một phút nghỉ): “Chú Hai vứt sào, ngồi xuống thở không ra hơi”.

Về nghệ thuật, đây là đoạn văn tả cảnh, tả người. Cảnh được nhìn từ đôi mắt biết quan sát và đắm say của một con người trên thuyền, của người trong cuộc. Bởi thế, cảnh trí ven sông, cảnh con thuyền vượt thác rất tự nhiên, sinh động và chân thực. Còn con người ở đây được miêu tả theo lối đậm nhạt, miêu tả bằng cách chấm phá, lấy ngoại hình để khắc hoạ nội tâm (như nhân vật dượng Hương). Đó là cách miêu tả có chọn lọc, có dụng ý nghệ thuật chứ không phải là tuỳ tiện gặp gì ghi nấy. Chẳng hạn như hệ thống hình ảnh những cây cổ thụ ven sông. Trước hết, chúng là những chứng nhân cho cuộc vượt thác (có mật ở hai chặng đầu và cuối của cuộc hành trình) để dõi theo và ghi nhận.

Những cây cổ thụ giống như những bậc hiền triết phương Đông với tuổi tác và sự trải nghiệm đang chứng kiến những sự tích của con người (ở đây là người vượt thác) và nạp dữ liêu vào cuốn sử triền miên của thời gian vô tận. Cũng có thể hình dung đó là những ông già tốt bụng giữa con cháu của mình (những bụi cây lúp xúp xung quanh), đang đứng phía sau lớp con cháu đã trưởng thành có thể thay thế được cha anh để lập nên những trang đời đẹp. Những chòm cây cổ thụ ấy có những tâm trạng không giống nhau gắn với hai giai đoạn của quá trình vượt thác.

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Vượt thác” số 4

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Vượt thác” số 5

Nhà văn Võ Quảng được biết đến như một nhà văn của thiếu nhi, bởi ông có rất nhiều tác phẩm chuyên viết về thiếu nhi, trong số đó phải kể đến một tác phẩm nổi tiếng là truyện “Quê nội”. Đoạn trích “Vượt thác” được trích từ chương XI của truyện, nói về cảnh thiên nhiên sông nước kì vĩ và tuyệt đẹp trên sông Thu Bồn trong một lần vượt thác đầy gian nan và vất vả.

Có thể nói, văn bản “Vượt thác” giống như một bức tranh về thiên nhiên và con người lao động trên dòng sông Thu Bồn, đó là một bức tranh của người nghệ sĩ tài hoa, mọi cảnh vật trong tranh được miêu tả thay đổi theo chặng đường mà con thuyền đi qua và theo điểm nhìn của tác giả. Với điểm nhìn ở trên con thuyền, tác giả đã có được một vị trí thuận lợi vừa để quan sát tinh tế lại vừa cảm nhận được những nét tiêu biểu và đặc sắc nhất của thiên nhiên, con người lao động nơi đây.

Trong bức tranh về thiên nhiên vùng sông Thu Bồn, cảnh vật được nhân hóa và so sánh trở nên sống động và chân thực hơn, mọi vật trở nên có hồn và gợi cảm. Từ vùng đồng bằng êm đềm thơ mộng, trù phú với “những bãi dâu trải ra bạt ngàn đến tận những làng xa tít”. Con thuyền thì “như đang nhớ núi rừng, muốn lướt cho nhanh để về kịp”, những con thuyền chất đầy cau, dây, dầu rái, chở mít, chở quế,… cùng nối đuôi nhau xuôi dòng nước trôi chầm chậm. Rồi con thác hiện ra, “Nước từ trên cao phóng giữa hai vách đá… Cho đến chiều tối, thuyền vượt qua khỏi thác Cổ Cò”.

Khi con thuyền trôi qua đoạn sông êm ả, chuẩn bị tới nơi có nhiều thác dữ thì ở hai bên bờ sông, những cây cổ thụ hiện ra với dáng đứng trầm ngâm lặng nhìn như cảnh báo con người chuẩn bị tinh thần vượt qua. Cho đến khi con thuyền đã vượt qua thác thì dọc sườn núi lại hiện ra những cây to xen lẫn bụi cây nhỏ lúp xúp tưởng như cổ vũ con thuyền tiến về phía trước. Cách nhìn và trí tưởng tượng của tác giả đã cho thấy tâm trạng phấn chấn của con người trong hành trình vượt thác. Khung cảnh thiên nhiên đẹp là một cái nền để tôn vinh vẻ đẹp con người lao động.

Nhà văn đặc biệt tả nhân vật Dượng Hương Thư với những nét ấn tượng về cả hành động và ngoại hình: “Dượng Hương Thư đánh trần đứng sau lái co người phóng chiếc sào xuống lòng sông…quay đầu chạy về lại Hòa Phước”, “Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc… khác hẳn Dượng Hương Thư ở nhà, nói năng nhỏ nhẻ, tính nết nhu mì, ai gọi cũng vâng vâng dạ dạ”. Những biện pháp so sánh đã khắc họa rõ nét vẻ đẹp rắn rỏi, dũng mãnh của nhân vật, biểu thị một sức mạnh và sự tập trung cao độ để chiến đấu với dòng thác. Tác giả như làm nổi bật lên cái “thần” nằm trong con người lao động trước thiên nhiên rộng lớn, bên cạnh đó cũng không quên nhắc đến những phẩm chất đáng quý trong cuộc sống đời thường.

Có thể thấy, văn bản “Vượt thác” của nhà văn Võ Quảng có một sự thống nhất cao độ và đạt được thành công trong việc kết hợp tả thiên nhiên và con người. Nhà văn không chỉ ca ngợi cảnh đẹp thiên nhiên mà còn khắc họa vẻ đẹp và phẩm chất cao đẹp của con người lao động trên dòng sông Thu Bồn.

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Vượt thác” số 4

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Vượt thác” số 3

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Vượt thác” số 4

Có lẽ, đọc tác phẩm Vượt thác của nhà văn Võ Quảng người đọc càng thêm yêu, thêm quý cảnh sắc thiên nhiên và con người Việt Nam. Bằng bút pháp nghệ thuật tả cảnh, tả người của tác giả làm cho bài văn trở nên sinh động hơn với vẻ đẹp hùng vĩ, vẻ đẹp anh dũng của người dân lao động trên sông Thu Bồn.

Vượt thác là một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ trên dòng sông Thu Bồn. Ở đó người ta thấy được “những bãi dâu bạt ngàn đến tận những làng xa tít”. Khung cảnh như mở ra một nơi nhộn nhịp thuyền bè qua lại với những chuyến đò chở giây mây, dầu rái, quế. Tất hòa vào một nhịp sống năng động ở nơi đây. Dọc bờ sông “những chòm cổ thụ dáng mãnh liệt đứng trầm ngâm lặng nhìn xuống nước” Những chòm cổ thụ được tác giả nói ở đầu và cuối đoạn văn đều mang một dụng ý riêng. Ở đoạn đầu nó như báo hiệu sự khó khăn thử thách đang chờ trước mắt con người.

Thuyền phải vượt qua nhiều thác dữ. Nước ngày một lên cao phóng giữa hai hai vách đá dựng đứng. Dượng Hương một mình với cơn lũ thuyền cứ vùng vằng cứ chực trụt xuống. Và cho đến chiều tối, thì con thuyền cũng vượt qua khỏi thác cổ cò. Ở những dòng cuối này người ta lại thấy ” dọc sườn núi, những cây to mọc giữa những bụi lúp xúp nom xa như những cụ già vung tay hô đám con cháu tiến về phía trước” cảnh vật như hòa vào niềm vui chung cùng con người, chiếc thuyền đã vượt qua cơn thác lũ, con người đã chiến thắng được thiên nhiên .

Ở tác phẩm ” Vượt Thác” Tác giả không chỉ miêu tả cảnh thiên nhiên tươi đẹp hùng vĩ mà hơn tất cả đó hình ảnh tươi đẹp của con người, sức mạnh to lớn chiến thắng mọi thiên tai. Dượng Hương Thư như một người hùng bước ra từ ngòi bút của nhà văn.

Trước khi vượt qua thác dữ, dượng Hương được sai nấu cơm ăn cho chắc bụng còn có sức trèo thuyền. ” Dượng Hương Thư đánh trần đứng sau lái có người phóng chiếc sào xuống lòng sông nghe một tiếng “soạc”! Thép đã cắm vào sỏi! Dượng Hương ghì chặt trên đầu sào, lấy lại thế trợ giúp chú hai và thằng Cù Lao phóng sào xuống nước. Chiếc sào của dượng Hương dưới sức chống nó cong lại. Nước bị cản văng bọt tứ tung, thuyền vùng vằng cứ chực trụt xuống quay đầu quay về lại Hòa Phước” .

Hình ảnh dượng Hương với những động tác thuần thục vượt qua cơn lũ rõ ràng và nhanh như cắt. “Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt cuồn cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa ghì trên ngọn sào giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ.” Dượng hương Thư hoàn toàn khác với một dượng Hương Thư ở nhà, nói năng nhỏ nhẹ, tính nết nhu mì, ai gọi cũng vâng vâng dạ dạ, trong cơn thác lũ người ta thấy một người anh hùng gan dạ, dũng cảm và có kinh nghiệm sức khỏe khi băng qua con thác dữ. Tác giả như vẽ nên một nét đẹp hoàn mỹ – nét đẹp của người dân lao động có thể chiến thắng vượt qua mọi gian nguy.

Đọc xong tác phẩm ” Vượt thác” của Võ Quảng cho ta thấy được cảnh vượt thác của con thuyền trên sông Thu Bồn, làm nổi bật vẻ đẹp hùng dũng và sức mạnh của con người lao động trên nền cảnh thiên nhiên rộng lớn, hùng vĩ. Với nghệ thuật đặc sắc nhà văn đã tả cảnh, tả người từ điểm nhìn trên con thuyền theo hành trình vượt thác rất tự nhiên và sinh động.

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Vượt thác” số 2

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Vượt thác” số 3

Văn bản Vượt thác được trích từ chương XI truyện Quê nội (1974) của Võ Quảng – nhà văn chuyên viết cho thiếu nhi. Đoạn trích đưa ta về cảnh thiên nhiên sông nước trên sông Thu Bồn trong một cuộc vượt thác gian nan, vất vả của con người.

Vượt thác đã đưa bạn đọc cùng với hành trình của con thuyền do dượng Hương Thư chỉ huy, từ vùrg đồng bằng trù phú, vượt qua những thác ghềnh ở vùng núi để tới thượng nguồn lấy gỗ về dựng trường học cho làng Hoà Phước sau Cách mạng 1945 thành công.

Vượt thác là bức tranh thiên nhiên trên dòng sông Thu Bồn. Bức tranh đó được miêu tả có sự thay đổi theo từng chặng đường của con thuyền, theo điểm nhìn của tác giả. Nhà văn đã chọn vị trí quan sát là ở trên thuyền nên có thể nhìn thấy cảnh quan hai bên bờ cũng như dòng nước trên sông: con thuyền đi đến đâu thì cảnh hiện ra đến đấy. Có thể nói đó là một vị trí quan sát thích hợp nhất để tả cảnh.

Ở đây, cảnh vật được nhân hoá, so sánh khiến cho bức tranh thiên nhiên sông nước có hồn, sinh động và gợi cảm. Con thuyền như đang nhớ núi rừng phải lướt cho nhanh để về cho kịp… Nước từ trên cao phóng giữa hai vách đá dựng đứng chảy đứt đuôi rắn… Rồi thuyền vượt qua khỏi thác cổ Cò. Dòng sông cứ chảy quanh co dọc những núi cao sừng sững. Nhưng hàm chứa nhiều ý nghĩa là hình ảnh những cây cổ thụ trên bờ sông mà tác giả đã miêu tả đến hai lần ở đoạn đầu và cuối bài văn. Khi con thuyền đã qua đoạn sông êm ả, sắp đến chỗ có nhiều thác dữ thì dọc bờ sông hiện ra những chòm cổ thụ dáng mãnh liệt đứng trầm ngâm lặng nhìn xuống nước như là cảnh báo con người: phía trước là khúc sông có nhiều thác dữ, cần phải chuẩn bị tinh thần để vượt qua.

Đến khi con thuyền vượt qua nhiều thác dữ thì dọc sườn núi lại hiện ra. Điều đặc sắc hơn là những cây cổ thụ đều được ví với người để biểu hiện thêm những tầng nghĩa mới. Song điều đặc biệt ở đây là mỗi hình ảnh so sánh đều có nét riêng độc đáo không gây sự nhàm chán. Cho nên, nếu hình ảnh ở đoạn cuối văn bản là một hình ảnh so sánh rõ ràng (có từ so sánh “như”) thì hình ảnh ở đoạn trước (đầu văn bản) là một sự so sánh kín đáo, được thể hiện bằng một cách nhân hoá (qua cái dáng đứng trầm ngâm lặng nhìn – đặc điểm chỉ có ở con người để miêu tả cho những chòm cổ thu). Tạo được những hình, ảnh giàu sức biểu hiện như vậy là một thành công của Võ Quảng.

Khung cảnh thiên nhiên dù có đẹp đến đâu cũng chỉ là một cái nền để tôn vẻ đẹp của con người bởi con người bao giờ cũng là trung tâm của cảnh. Đó là chú Hai, vi tiêu biểu nhất, đẹp nhất là dượng Hương Thư ở cảnh vượt thác dữ. Nhà văn đã đặc tả nhân vật này với những chi tiết đầy ấn tượng thể hiện một quyết tâm lớn để chiến thắng hoàn cảnh.

Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt cuồn cuộn, hai hàm răng cẩn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa ghì trên ngọn sào, giống như một hiệp sĩ của Trường sơn oai linh hùng vĩ. Biện pháp so sánh được sử dụng nối nhau liên tiếp trong đoạn đã khắc hoạ vẻ đẹp rắn chắc, dũng mãnh của nhân vật, biểu thị sức mạnh, sự cố gắng hết sức tập trung tất cả tinh thần và nghị lực để chiến đấu với dòng thác.

Lại một so sánh tưởng chừng như lạc lõng: Dượng Hương Thư đang vượt thác khác hẳn dượng Hương Thư ở nhà, nói năng nhỏ nhẹ, tính nết nhu mì, ai gọi cũng vâng vâng dạ dạ, thực chất đã mang lại hiệu quả bất ngờ. Nó không những chỉ đối lập và thống nhất hai tư thế, hai hình ảnh khác nhau của cùng một con người mà còn hé mở cho người đọc biết thêm những phẩm chất đáng quí của người lao động: khiêm tốn, nhu mì đến nhút nhát trong cuộc sống đời thường, nhưng lại dũng mãnh, nhanh nhẹn, quyết liệt trong công việc, trong khó khăn thử thách.

Đoạn văn là sự thống nhất cao độ và thành công tột bậc giữa tả thiên nhiên và tả người, tả chân dung con người trong hoạt động, giữa kể và tả với hai biện pháp nghệ thuật phó biến: nhân hoá và so sánh.

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Vượt thác” số 2

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Vượt thác” số 1

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Vượt thác” số 2

Đoạn văn này trích từ chương XI trong truyện Quê nội, một trong những tác phẩm thành công nhất của Võ Quảng. Truyện viết về cuộc sống ở một làng quê ven sông Thu Bồn (làng Hoà Phước), tỉnh Quảng Nam vào những ngày sau Cách mạng tháng Tám 1945 và những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhân vật chính của truyện là hai em thiếu niên có tên là Cục và Cù Lao.

Tác giả miêu tả dòng sông Thu Bồn và quang cảnh hai bên bờ trong một cuộc vượt thác của con thuyền do dượng Hương Thư chỉ huy, từ làng Hoà Phước lên thượng nguồn để lấy gỗ về dựng trường học cho làng. Qua đó làm nổi bật vẻ hùng dũng và sức mạnh của con người lao động trên cái nền là khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp. Nghệ thuật tả cảnh, tả người xuất phát từ điểm nhìn trên con thuyền theo hành trình vượt thác nên rất tự nhiên, sinh động.

Cuộc hành trình được kể lại theo trình tự thời gian. Con thuyền qua đoạn sông phẳng lặng trước khi đến chân thác, ngược dòng sông từ bến làng Hoà Phước, qua đoạn sông êm ả ở vùng đồng bằng, rồi vượt đoạn sông có nhiều thác ghềnh ở vùng núi, sau cùng lên tới khúc sông khá phẳng lặng không còn thác dữ. Có thể coi bức tranh thiên nhiên được miêu tả trong bài văn này là một bức tranh sơn thuỷ hữu tình.

Đứng trên con thuyền, tác giả ngắm bầu trời và dòng sông, trong lòng trào lên một cảm xúc mãnh liệt. Hơi văn cuồn cuộn như con thuyền lướt sóng: Cánh buồm nhỏ căng phồng. Thuyền rẽ sống lướt bon bon như đang nhớ núi rừng phải lướt cho nhanh để về cho kịp.

Đoạn sông ở vùng đồng bằng thật êm đềm, hiền hoà thơ mộng, thuyền bè tấp nập. Hai bên bờ lànhững bãi dâu trải ra bạt ngàn đến tận những làng xa tít. Là miền quê trù phú: Thỉnh thoảng chúng tôi gặp những thuyền chất đầy cau tươi,dây mây, dầu rái, những thuyền chở mít, chở quế. Thuyền nào cũng xuôi chậm chậm. Càng về ngược, vườn tược càng um tùm.

Đến đoạn nhiều thác ghềnh thì cảnh vật hai bên bờ sông cũng thay đổi: những chòm cổ thụ đứng trầm ngâm lặng nhìn xuống nước, rồi núi cao đột ngột hiện ra như chắn ngang trước mặt. Ở đoạn sông có nhiều thác dữ, tác giả đặc tả hình ảnh dòng nước: Nước từ trên cao phóng giữa hai vách đá dựng đứng chảy đứt đuôi rắn. Dòng chảy dữ dội đã được tác giả miêu tả thật ấn tượng.

Giữa khung cảnh hoang dã và dữ dội ấy, hình ảnh con người hiện lên thật đẹp, thật khoẻ. Sự hiểm trở hiện lên qua việc miêu tả những động tác dũng mãnh của dượng Hương Thư và mọi người khi chống thuyền vượt thác: Dượng Hương Thư đánh trân đứng sau lái co người phóng chiếc sào xuống lòng sông nghe một tiếng “soạc”! Thép đã cấm vào sỏi! Dượng Hương ghì chặt trên đầu sào, lấy thế trụ lại, giúp cho chú Hai và thằng Cù Lao phóng sào xuống nước. Chiếc sào của dượng Hương dưới sức chống bị cong lại. Nước bị cản văng bọt tứ tung, thuyền vùng vằng cứ chực trụt xuống, quay đầu chạy về lại Hoà Phước.

Điều đặc sắc trong nghệ thuật miêu tả ở đoạn này là sự phối hợp miêu tả cảnh vật thiên nhiên với hoạt động của con người đưa thuyền ngược dòng, vượt thác. Cảnh thiên nhiên hiện lên thật đẹp đẽ và phong phú. Trung tâm của bức tranh là hình ảnh con người mà nổi bật là vẻ rắn rỏi, dũng mãnh của dượng Hương Thư: Những động tác thả sào, rút sào rập ràng nhanh như cắt. Thuyền cố lẩn lên. Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt cuồn cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lùa ghì trên ngọn sào giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ.

Nhân vật dượng Hương Thư được tác giả tập trung khắc hoạ nổi bật trong cuộc vượt thác. Dượng Hương Thư vừa là người đứng mũi chịu sào quả cảm lại vừa là người chỉ huy dày dạn kinh nghiệm. Tác giả tập trung miêu tả các động tác, tư thế và ngoại hình nhân vật này với nhiều hình ảnh so sánh vừa khái quát vừa gợi cảm. So sánh như một pho tượng đồng đúc thể hiện ngoại hình gân guốc, vững chắc của nhân vật. Còn so sánh giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ lại thể hiện vẻ dũng mãnh, tư thế hào hùng của con người trước thiên nhiên. Tác giả còn so sánh hình ảnh dượng Hương Thư khi vượt thác khác hẳn với hình ảnh của dượng lúc ở nhà để càng làm nổi bật vẻ đẹp khoẻ khoắn, kiên cường của nhân vật.

Hình ảnh dòng sông vẫn chảy quanh co giữa những núi cao nhưng đã bớt hiểm trở và đột ngột mở ra một vùng ruộng đồng khá bằng phẳng như để chào đón con người sau cuộc vượt thác thắng lợi. ở đoạn đầu, khi con thuyền đã qua đoạn sông êm ả, sắp đến khúc sông có nhiều ghềnh thác thì phong cảnh hai bờ cũng đổi khác và những chòm cổ thụ dáng mãnh liệt đứng trầm ngâm lặng nhìn xuống nước vừa như báo trước về một khúc sông dữ hiểm, vừa như mách bảo con người dồn nén sức mạnh chuẩn bị vượt thác. Còn ở đoạn cuối, hình ảnh những chòm cổ thụ lại hiện ra trên bờ khi con thuyền đã vượt qua nhiều thác dữ, thì lại mọc giữa những bụi lúp xúp nom xa như những cụ già vung tay hô đám con cháu tiến về phía trước.

Nghệ thuật so sánh làm nổi bật sự tương phản trong nét đẹp của thiên nhiên và biểu hiện được tâm trạng hào hứng, phấn chấn của con người vừa vượt qua được những thác ghềnh nguy hiểm, tiếp tục đưa con thuyền tiến lên phía trước.

Bài văn miêu tả dòng sông Thu Bồn và cảnh quan hai bên bờ theo hành trình của con thuyền qua những vùng địa hình khác nhau nhưng tập trung nhiều nhất vào cảnh vượt thác. Qua đó tác giả làm nổi bật hình ảnh của con người lao động trên cái nền là khung cảnh sông núi miền Trung hùng vĩ và nên thơ.

Đăng bởi: Nhựt Nguyễn Minh

Từ khoá: 8 Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Vượt thác” của Võ Quảng hay nhất

10 Bài Văn Phát Biểu Cảm Nghĩ Bài “Sài Gòn Tôi Yêu” Của Minh Hương Hay Nhất

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Sài Gòn tôi yêu” số 10

Tùy bút “Sài Gòn tôi yêu” là một bài tùy bút hay thể hiện cái nhìn sâu sắc của tác giả Minh Hương với thành phố phát triển bậc nhất Việt Nam. Sài Gòn tôi yêu là những cảm nhận tinh tế của nhà văn với con người và mảnh đất mà tác giả gắn bó suốt mấy chục năm sinh sống.

Bài tùy bút mở đầu vô cùng ấn tượng về thành phố Sài Gòn. Hình ảnh một Sài Gòn trẻ trung cứ trẻ hoài như một cây tơ đang độ thay da đổi thịt, nõn nà như thiếu nữ đang xuân. Điều này thể hiện sự độc đáo thể hiện sự tinh tế trong cách nhìn cách quan sát của tác giả Minh Hương. Từ sự quan sát tinh tế tác giả đột ngột chuyển hướng bài viết qua cảm xúc của mình dành cho Sài Gòn.

Sài Gòn tôi yêuTôi yêu Sài Gòn…điệp từ này được tác giả Minh Hương lặp đi lặp lại nhiều lần như khẳng định tình cảm yêu thương mà tác giả dành cho Sài Gòn là vô bờ bến không gì có thể sánh được. Yêu nắng sớm, ngọt ngào, yêu gió lộng nhớ thương, yêu thời tiết trở trời âm u buồn bã , yêu những đêm hoang vắng tĩnh mịch thưa thớt tiếng ồn ào… Tình yêu mà tác giả dành cho Sài Gòn không gì có thể sánh được.

Tình yêu tinh tế của tác giả đã miêu tả, đã vẽ lên một Sài Gòn vô cùng tươi đẹp và nhiều cung bậc cảm xúc. Lúc thì tươi trẻ nhưng cô gái tuổi xuân thì, khi thì già nua âm u buồn chán nhưng một cụ lão gần đất xa trời. Có lúc thì tinh nghịch như một cậu bé.

Tác giả yêu Sài Gòn yêu luôn những con người sống ở đây, những nét đẹp toát ra từ vẻ đẹp tâm hồn của những con người hiền hậu, những nét đặc trưng của người Sài Gòn thân thiện dễ mến. Họ có cách nói tự nhiên, hiền lành dễ thương dễ mến, không làm khách, không hoa văn như lối nói khách sáo thường thấy ở những người Hà Nội thanh lịch, ngại bộc lộ cảm xúc thật. Người Sài Gòn không như vậy, họ thường sống ngay thẳng nghĩ gì nói đó.

Bài tùy bút “Sài Gòn tôi yêu” là một bài tùy bút vô cùng hay và độc đáo thể hiện sự quan sát tinh tế của tác giả. Đồng thời nó cũng thể hiện tình cảm sâu sắc mà tác giả dành cho Sài Gòn một mảnh đất gắn liền với nhiều chiến tích trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Sài Gòn tôi yêu” số 9

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Sài Gòn tôi yêu” số 10

Sài Gòn tôi yêu là bài kí của Minh Hương viết vào tháng 12-1990, sau được in trong tập Nhớ Sài Gòn – một tập văn thơ – nhân dịp kỉ niệm 300 năm Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh. Trước năm 1945, tác giả đã đến sinh sống ở Sài Gòn, trở thành một cư dân của “hòn ngọc Viễn Đông” mà ông gọi là “cái đô thị ngọc ngà”. Nhan đề bài kí đã thể hiện tình yêu thiết tha sâu nặng đối với Sài Gòn -“Sài Gòn tôi yêu”.

Mấy dòng đầu bài kí, tác giả nói một cách hóm hỉnh qua một số hình ảnh so sánh: “Sài Gòn vẫn trẻ. Tôi thì đương già”. Sài Gòn 300 tuổi so với cái tuổi 5.000 năm của đất nước ta thì Sài Gòn “còn xuân chán”, “như một cây tơ đương độ nõn nà…”. Minh Hương thổ lộ tình yêu Sài Gòn trong mọi thời tiết và mọi thời gian. Tác giả “yêu nắng sớm, một thứ nắng ngọt ngào”; yêu “buổi chiều lông gió nhớ thương, dưới những cây mưa nhiệt đới bất ngờ”; yêu thời tiếttrái chứng: “trời đang ui ui buồn bã, bỗng nhiên trong vắt lại như thủy tinh”. Tác giả yêu đêm khuya “thưa thớt tiếng ồn”; yêu những giờ cao điểm, phố phường “náo động, dập dìu xe cộ”; yêu làn không khí “mát dịu, thanh sạch” vào buổi sáng tinh sương, trên một số con đường nhiều cây xanh. Tình yêu Sài Gòn của Minh Hương được ông ví với tình cảm của “người đàn ông vẫn ôm ấp bóng dáng mối tình đầu chứa chan nhiều ngang trái”.

Sài Gòn rất bao dung và hào phóng “bao giờ cũng dang hai cánh tay mở rộng mà đón nhiều người từ trăm nẻo đất nước kéo đến”. Người Bắc, người Trung, người Nam, người Hoa, người Khơ-me… đã đến ở Sài Gòn, “rồi thừa nhận nơi đây là quê quán của mình”. Minh Hương đã đến ở Sài Gòn hơn nửa thế kỉ sao không yêu Sài Gòn, sao không coi Sài Gòn là quê hương thứ hai của mình được? Tác giả yêu Sài Gòn, rồi yêu hơn con người Sài Gòn với bao phẩm chất tốt đẹp, biểu hiện một “phong cách bản địa mang nhiều nét đặc trưng”. Người Sài Gòn “ăn nói tự nhiên, nhiều lúc hề hà, dễ dãi”, “rất chơn thành, bộc trực”, “ít dàn dựng, tính toán”.

Minh Hương đã nêu lên những nét đáng yêu của các cô gái “thị thiềng” ngày xưa. Tóc “buông thõng” trên vai trên lưng. Đầu đội nón vải trắng rộng vành. Áo bà ba trắng… Quần đen rộng. Hoặc đi giày bố trắng, hay xăng-đan da, hoặc đi guốc vông trơn trắng nõn, quai da.. Rất dễ nhìn, dễ ưa: dáng đi “khỏe khoắn, mạnh dạn”; “cũng yểu điệu, thướt tha..”, “cũng e thẹn, ngượng nghịu.”. Nụ cười “thiệt tình, tươi tắn và ít nhiều ngây thơ”. Cái đẹp của cô gái Sài Gòn “thật đơn sơ, đôn hậu”.

Cách giao thiệp của thiếu nữ Sài Gòn rất duyên dáng. Chào người lớn, các cô “cúi đầu, chắp hai bàn tay lại và xá”. Gặp bạn bè thì “hơi cúi đầu và mỉm cười: cười ngậm miệng, cười chúm chím, cưởi mỉm, mỉm, cười he hé…”, tùy mức độ thân quen.

Đặc biệt là cặp mắt cô gái Sài Gòn “sáng rỡ, nhí nhảnh, đôi lúc lại ánh lên vài tia hóm hỉnh”. Cách giao tiếp của thiếu nữ Sài Gòn có vẻ hơi “cổ xưa” nhưng lại rõ ràng “dân chủ”, “không khúm núm hay màu mè”, “không chút mặc cảm, tự ti”. Nghĩa là họ vẫn giữ được phong cách dân tộc, nhưng không còn mang tư tưởng phong kiến, trái lại rất tân tiến. Có thể nói đoạn văn viết về cô gái Sài Gòn là đặc sắc nhất, vừa tỉ mỉ vừa khái quát, biểu lộ tấm lòng trân trọng, quý mến của Minh Hương. Ta vô cùng thích thú như được thú vị ngắm nghía những bức ảnh chân dung nghệ thuật của các cô gái Sài Gòn trong phòng triển lãm những năm đầu thế kỉ XX.

Tính cách con người Sài Gòn rất đẹp và đáng yêu. Các cô gái, các chàng trai, các giới đồng bào giàu lòng yêu nước, bất khuất, dám xả thân vì chính nghĩa, vì cách mạng và kháng chiến, vì đất nước và nhân dân. Với Minh Hương, tình yêu Sài Gòn gắn liền với tình cảm trân trọng, quý mến, cảm phục những con người Sài Gòn.

Phần cuối bài kí, tác giả viết qua một so sánh đáng yêu: “Miền Nam là đất lành thì Sài Gòn cũng là một đô thị hiền hòa”. “Đất lành chim đậu” (tục ngữ). Trước kia, Sài Gòn có nhiều chim, nhưng ngày nay rất ít chim. Những kẻ vô trách nhiệm với môi trường sống đã “đang tay bắn giết chim và dơi của thành phố”. Chim chóc thì “hiếm hoi dần”, dân số lại gia tăng “leo lên hơn năm triệu”. Thoáng một chụt băn khoăn?

Minh Hương đã tâm sự: “Yêu Sài Gòn và yêu cả con người ở đây”. Mối tình ấy “dai dẳng, bền chặt”. Tác giả ước mong “mọi người, nhất là các bạn tẻ, đều yêu Sài Gòn như tôi”. Đó là một tiếng nói “chơn thành, bộc trực”. Sài Gòn, thành phố 300 tuổi, là thành đổng Tổ quốc, là thành phố mang tên Bác – thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng – ai mà chẳng tự hào, ai mà chẳng mến yêu.

Bài kí Sài Gòn tôi yêu cho ta nhiều ấn tượng. Giọng văn hóm hỉnh, chân thành thể hiện một cách viết độc đáo, sắc sảo. Chữ nghĩa, ngôn từ gợi lên sắc thái Sài Gòn rất đậm đà: “trời đang ui ui”… “các cô gái thị thiềng”, “chắp hai bàn tay lại và xá”… Một vài so sánh khá ý vị, nhất là khi nói về một số nét đẹp của thiếu nữ Sài Gòn: “cũng e thẹn, ngượng nghịu như vừng trăng mới ló, còn ngập ngừng giấu nửa vành sau áng mây. Nụ cười thiệt tình, tươi tắn và ít nhiều ngây thơ..”.

Sài Gòn tôi yêulà một bài kí duyên dáng có ít nhiều khám phá, tỏa sáng tính nhân văn. Hay đấy. cần đọc để thưởng thức, để yêu Sài Gòn hơn nữa.

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Sài Gòn tôi yêu” số 9

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Sài Gòn tôi yêu” số 8

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Sài Gòn tôi yêu” số 9

Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay, trước kia có tên gọi là Sài Gòn. Ba trăm năm từ khi được thành lập cho đến ngày nay, thành phố Sài Gòn đã trải qua bao thăng trầm, biến đổi và ngày càng lớn lên, trở thành đô thị lớn nhất, có dân số đông nhất trong các tỉnh, thành phố của nước ta, là trung tâm kinh tế lớn nhất của Việt Nam. Để hiểu một phần nét đẹp, nét đặc trưng của Sài Gòn, chúng ta hãy đọc bài tùy bút Sài Gòn tôi yêu của cây bút đương đại Minh Hương.

Bốn câu mở đầu, từ “Sài Gòn vẫn trẻ” đến cái đô thị ngọc ngà này” là đọan thứ nhất: Cảm nhận chung về sức sống và vẻ đẹp, qúy của Sài Gòn. Đọan thứ hai, từ “Tôi yêu Sài Gòn …” đến “… hơn năm triệu”. Nhà văn biểu hiện tình yêu Sài Gòn qua những phát hiện nét đặc trưng của thành phố về khí hậu, con người, cuộc sống… Bốn câu cuối: từ “Vậy đó mà tôi yêu Sài Gòn …” đến hết: Nhân mạnh tình cảm đằm thắm, dai dẳng, da diết của mình đối với Sài Gòn.

Đọc bài tùy bút, chúng ta thấy cái tôi tác giả biểu hiện trực tiếp trong từng đọan, từng hình ảnh, sự việc bằng hai cung bậc: sự phát hiện tinh tế và tình cảm nồng nàn, đằm thắm. Ngay mấy câu mở đầu, nhà văn đã ngợi ca vẻ đẹp đặc trưng của Sài Gòn bằng cách đối chiếu, so sánh, ẩn dụ khéo léo. Đối chiếu ba trăm năm tuổi của Sài Gòn với năm ngàn năm tuổi của đất nước, nhà văn khẳng định : “Cái đô thị này còn xuân chán”.

Tiếp đó là một so sánh : “Sài Gòn cứ trẻ hoài như một cây tơ đương độ nõn nà…” và một ẩn dụ : “cái đô thị ngọc ngà này…”. Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh vừa mang vóc dáng của con người đang độ xuân xanh, vừa khoẻ khoắn, vươn cao, tràn trê nhựa sống của một loài cây non tơ nõn nà, lại vừa thu gọn trong hình hài của ngọc ngà quý hiếm. Những cụm từ “còn xuân chán”, “cứ trẻ hoài…”, “đương độ nõn nà trên đà thay da đổi thịt…” biểu hiện rõ sức sống đang lên của Sài Gòn, tình yêu và niềm tự hào của nhà văn đối với mảnh đất mình đang sống.

Xuống đoạn hai, sự phát hiện và tình cảm của tác giả phong phú, tinh tế hơn và nồng nàn hơn. Mở đầu đoạn văn lại là một so sánh khá táo bạo : “Tôi yêu Sài Gòn da diết như người đàn ông vẫn ôm ấp bóng dáng mối tình đầu chứa nhiều ngang trái”. Nhà văn yêu Sài Gòn ờ những phương diện nào, từ đó phát hiện những đặc trưng nào của Sài Gòn ? Trước hết, tác giả cảm nhận về khí hậu Sài Gòn với các đặc điểm ít nơi trên đất nước ta có được.

Nào là “nắng sớm… ngọt ngào, buổi chiểu lộng gió”. Nào là “thời tiết trái chứng, trời đang ui ui buồn bã bồng nhiên trong vắt lại như thuỷ tinh…”. Trong thời tiết ấy, phố phường Sài Gòn lúc thì “náo động dập dìu xe cộ”, lúc “tĩnh lặng buổi sáng tinh sương với làn không khí mát dịu, thanh sạch…”. Điều thú vị là điệp từ yêu được nhắc lại tới năm lần liên tiếp, rồi được nhấn mạnh thêm hai lần trong câu ca dao như muốn sơ kết một cung bậc cảm xúc : Yêu nhau yêu cả đường đi…

Tiếp theo nét đặc trưng của khí hậu Sài Gòn là vẻ đẹp và phong cách sống của người dân Sài Gòn. Tác giả giới thiệu thành phần dân cư Sài Gòn thật khéo : “Ở trên đất này, không có người Bắc, không có người Trung, người Nam, người Hoa, người Khơ-me… mà chỉ toàn là người Sài Gòn cả”. Câu văn vừa điểm qua nguồn gốc người Sài Gòn vừa khẳng định tính đoàn kết gắn bó, tính thống nhất của dân cư nơi đây. Từ đó, nhà văn hồi tưởng những năm đầu, mình từ quê hương miền Trung vào Sài Gòn, được gặp gỡ, được đón nhận bởi những con người “ăn nói tự nhiên, nhiều lúc hề hà dễ dãi”, “rất chơn thành, bộc trực”.

Nhà văn coi đó là nét bản địa trong phong cách sống và ứng xử. Nét riêng của người dân Sài Gòn có lẽ tập trung và được bộc lộ rõ nhất ở nữ giới, nhất là các cô gái thị thiêng. Bằng một vài câu văn miêu tả, nhà văn vẽ trước mặt chúng ta chân dung cô gái Sài Gòn khá cụ thể: Tóc buông thõng trên vai, trên lưng, hoặc tết bím. Nón (mũ) vải tráng vành rộng. Áo bà ba trắng. Quần đen rộng. Giày bố trắng, hay xãng-đan da. Hoặc guốc vuông trơn trắng nõn. Dáng đi khoẻ khoắn, mạnh dạn. Nụ cười thiệt tình, tươi tắn và ít nhiều thơ ngây… Cũng có lúc, các cô gái Sài Gòn yểu điệu thướt tha, hoặc e thẹn ngượng ngùng. Tất cả nét cụ thể ấy hài hoà tạo thành cái duyên chung của người Sài Gòn, những con người mang “cái đẹp thật đơn sơ, đôn hậu”, như nhà văn nhận xét.

Song đó không phải loại người thô thiển, tầm thường, trái lại người Sài Gòn, các cô gái Sài Gòn hài hoà vẻ đẹp chân thành, bộc trực và tính e thẹn, ngượng ngùng, cứ y như vừng trăng mới ló, còn ngập ngừng giấu nửa vành sau áng mây. Cách ứng xử của các cô gái Sài Gòn cũng thật đẹp. Gặp người lớn, các cô cúi đầu chào. Gặp bạn bè cùng trang lứa, thì hơi cúi đầu và cười. Nụ cười của các cô ý nhị, vừa phải ngậm miệng, chúm chím, mủm mỉm… Đặc biệt là cặp mắt sáng rỡ, nhí nhảnh, hóm hỉnh. Ngỡ như đấy là những con người yếu mềm, hay e thẹn. Nhưng, khi bước vào những thời kì sôi sục chiến đấu chống ngoại xâm từ sau Cách mạng đến năm 1975, các cô gái Sài Gòn, người dân Sài Gòn đã đứng lên, hiên ngang, bất khuất không chút do dự, dấn thân vào khó khăn…

Đoạn văn lướt qua, điểm tên vài loài chim như những cánh bay vụt thoáng trên bầu trời mà vẫn đem đến cho người đọc ấn tượng thú vị về các giống chim ờ Sài Gòn : nhạn, én, quạ, sáo, vành khuyên, sắc ô, áo già,… Nhưng rồi chỉ lướt qua thôi, sau khi than thở, chê trách một số tay súng sát hại chim chóc, huỷ hoại môi trường, tác giả lại trỡ về nói tới con người, ca ngợi con người : “Thành phố hiếm hoi dần chim chóc. Thì đã có con người… Ngày nay đã leo lên hơn năm triệu”. Đúng là mảnh đất hào phóng và thuận lợi, nơi đất lành phía Nam của Tổ quốc ta.

Bốn câu kết của bài tuỳ bút trở về với âm điệu nhẹ nhàng, truyền cảm. Những từ biểu cảm được dùng ờ một tần số dồn dập thể hiện cảm xức mạnh hơn, đằm thắm hơn. Tôi yêu Sài Gòn … và yêu cả con người… Thương mến bao nhiêu… Tôi ước mọi người … đều yêu Sài Gòn … Đúng là một mối tình dai dẳng, bền chặt không bút nào tả xiết được.

Đọc bài tuỳ bút của tác giả Minh Hương, chúng ta hiểu và thêm yêu Thành phố Hồ Chí Minh với cái tên cổ kính gợi nhiều nhớ thương. Sài Gòn là thành phô trẻ trung, năng động, có nét hấp dẫn riêng của thiên nhiên, khí hậu nhiệt dới và nhất là cha con người Sài Gòn với phong cách cởi mở bộc trực, chân tình và tự tin. Cám ơn nhà văn Minh Hương đã thể hiện tình cảm sân đậm với Sài Gòn qua sự gắn bó lâu bền, am hiểu tường tận và cảm nhận tinh tế về thành phố của mình.

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Sài Gòn tôi yêu” số 7

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Sài Gòn tôi yêu” số 8

Nhà văn Minh Hương là một con người luôn tha thiết và gắn bó với Sài Gòn. Một thành phố trẻ trung, năng động cùng với con người cởi mở, bộc trực và đầy ắp tình thương. Ông luôn gửi gắm tình cảm của mình vào những tác phẩm trong đó phải kể đến bài kí “ Sài Gòn tôi yêu”.

Mở đầu bài tùy bút tác giả bộc lộ tình yêu nồng cháy của mình với thành phố mang tên Bác. Để thể hiện tình yêu của mình tác giả sử dụng điệp từ “tôi yêu” ở đầu mỗi câu văn được nhắc đi nhắc lại như một khúc ca tình yêu, như để người đọc thể hiện tình yêu sôi sục, rộn rã của nhà văn. Qua đó cũng cho ta cảm nhận được những ấn tượng chung về Sài Gòn: Sài Gòn cứ trẻ hoài như một cây tơ đương độ nõn nà, trên đà thay da, đổi thịt, miễn là cư dân ngày nay và cả ngày mai biết cách tưới tiêu, chăm bón, trận trọng giữ gìn cái đô thị ngọc ngà này. Một sự cảm nhận thật độc đáo, với hình ảnh so sánh liên tưởng đầy bất ngờ, thú vị.

Minh Hương đã thổ lộ tình yêu Sài Gòn trong mọi thời tiết và trong mọi thời gian. Tác giả “ yêu nắng sớm, một thứ nắng ngọt ngào”, yêu “ buổi chiều lộng gió nhớ thương, dưới những cây mưa nhiệt đới bất ngờ”, yêu thời tiết trái chứng “ trời đang in in buồn bã, bỗng nhiên vắt lại như thủy tinh”, yêu đêm khuya, yêu những giờ cao điểm, cái thanh sạch ở những con đường rợp bóng cây xanh…Tình yêu Sài Gòn của Minh Hương được ông ví với tình cảm của “người đàn ông vẫn ôm ấp bóng dáng mối tình đầu chứa chan nhiều ngang trái”.

Tất cả đã tạo nên vẻ đẹp và những nét riêng biệt cho thành phố phương Nam này. Qua đó cũng cho thấy được tài quan sát tinh tế, chất trữ tình sâu sắc thông qua từng lời văn, từng câu chữ mà nhà văn cảm nhận được khiến cho ai đọc tác phẩm cũng mong muốn một lần được đặt chân tới Sài Gòn. Với cảm hứng dạt dào trước một vùng đất trẻ trung, tác giả viết tiếp: “Sài Gòn cứ trẻ hoài như một cây tơ đương độ nõn nà, trên đà thay da, đổi thịt, miễn là cư dân ngày nay và cả ngày mai biết cách tưới tiêu, chăm bón, trân trọng giữ gìn cái đô thị ngọc ngà này”. Lời văn biểu cảm lôi cuốn, mạch suy nghĩ của tác giả đan xen nhuần nhuyễn đưa người đọc đến với những ấn tượng sâu sắc về thiên nhiên, khí hậu, nhịp sống và sinh hoạt của thành phố, đặc điểm cư dân và phong cách con người Sài Gòn.

Tác giả yêu Sài Gòn, yêu hơn là ở con người Sài Gòn với bao phẩm chất tốt đẹp, biểu hiện một “ phong cách bản địa mang nhiều nét đặc trưng. Người Sài Gòn “ ăn nói tự nhiên, nhiều lúc hề hà, dễ dãi”, tác giả nêu lên nét dáng đáng yêu của những cô gái dịu dàng, cách giao thiệp của những thiếu nữ Sài Gòn rất duyên dáng. Có hể nói đoạn văn viết về cô gái Sài Gòn là đặc sắc nhất, vừa tỉ mỉ vừa khái quát, biểu lộ tấm lòng trân trọng, quý mến của Minh Hương.

Tính cách của con người Sài Gòn rất đẹp và đáng yêu. Các cô gái, các chàng trai, các giới đồng bào giàu yêu nước, bất khuất, dám xả thân vì chính nghĩa, vì cách mạng và kháng chiến, vì đất nước và nhân dân. Đoạn văn cuối là một khái quát sâu sắc, có tác dụng làm tăng tính thuyết phục cho bài văn; nó gợi lên trong mỗi người đọc về một tình yêu cụ thể đối với đất nước, quê hương.

Với giọng văn hóm hỉnh, chân thành thể hiện một cách viết độc đáo, sắc sảo, tác phẩm là lời bày tỏ tình cảm của nhà văn dành cho thành phố Sài Gòn. Nơi đây từng là nơi tác giả gắn bó rất lâu dài hơn nửa cuộc đời vì thế cho nên tình cảm mà nhà văn dành cho nơi đây giống như tình cảm dành cho quê hương thứ 2 của ông vậy.

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Sài Gòn tôi yêu” số 6

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Sài Gòn tôi yêu” số 7

Tác phẩm “Sài Gòn tôi yêu” là một trong những tùy bút hay của tác giả Minh Hương viết về Sài Gòn, ông đã viết tác phẩm vào tháng 12 năm 1990 và in trong tập “Nhớ Sài Gòn”. Tùy bút là dòng văn đầy thương nhớ, chứa đựng tình yêu tha thiết, chân thành và son sắt chung thủy của Minh Hương đối với mảnh đất Sài Gòn.

Mở đầu, tác giả đã bộc lộ tình yêu nồng cháy của mình với Sài Gòn, thể hiện rõ nhất đó chính là điệp từ “tôi yêu” ở đầu mỗi câu văn nhắc đi nhắc lại như một bản tình ca, thể hiện tình yêu sôi sục, rộn rã cả nhà văn. Đối với Sài Gòn, Minh Hương yêu tất cả những gì thuộc về nó, tất cả mọi thứ của mảnh đất này, ngay cả những điều xấu xí và khó chấp nhận của nó.

Phát biểu cảm nghĩ về bài Sài Gòn tôi yêu của tác giả Minh HươngĐối với ông, từng hơi thở đều mang theo hương vị của Sài Gòn, tình yêu Sài Gòn đã ngấm vào da thịt và trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của ông. “Tôi yêu cả đêm khuya thưa thớt tiếng ồn…,Yêu cả cái tĩnh lặng của buổi sáng tinh sương với làn không khí mát dịu, thanh sạch…”.

Chính nhờ tình yêu ấy mà ông có cái cảm nhận thật nhạy cảm và tinh tế về thành phố Sài Gòn, nào là những giọt nắng “ngọt ngào”, nào là những buổi sáng “dịu ngọt”, nỗi nhớ thương của cơn gió lộng buổi chiều và những cơn mưa bất chợt của miền cận xích đạo.

Ông yêu mảnh đất này, yêu cả nhịp sống ồn ào và đa dạng nơi đây, yêu từng con phố, từng hàng cây xanh, yêu tất cả những điều bình dị, đơn sơ nhất đã tạo nên vẻ đẹp của thành phố Sài Gòn. Nói về con người ở Sài Gòn, Minh Hương cũng yêu tất cả con người ở đây, họ là những con người nhân hậu, bao dung như ánh mặt trời, luôn rộng mở vòng tay chào đón mọi người ở trăm nẻo đất nước, cùng nhau chung sống hòa hợp tạo nên một Sài Gòn phồn vinh, hoa lệ và nồng ấm. Và không thể kể đến các cô gái Sài Gòn, họ chính là những bông hoa đẹp đẽ nhất, tạo nên hương thơm và sắc thắm rực rỡ cho thành phố, nét đẹp của họ mang vẻ bình dị khiến bao người phải nhớ thương.

Khi nhớ về Sài Gòn, ta còn nhớ về những con người anh hùng đã hi sinh cả tuổi thanh xuân, tính mạng của mình vì bình yên tổ quốc. Minh Hương cũng bày tỏ bất bình khi thấy những con người phá hoại thiên nhiên, cảnh quan ngày một thay đổi, nhưng dù thế nào, cũng không thể làm thay đổi đi tình yêu nồng nhiệt, thắm thiết của ông với Sài Gòn: “Vậy đó mà tôi yêu Sài Gòn và yêu cả con người ở đây… Tôi ước mong mọi người nhất là các bạn trẻ, đều yêu Sài Gòn như tôi.

Trải qua bao nhiêu năm đất nước phát triển, Sài Gòn đã có nhiều đổi thay, tên gọi Sài Gòn cũng không còn nữa, thay vào đó là thành phố mang tên Bác – Hồ Chí Minh. Sài Gòn đã thay da đổi thịt trở thành một thành phố hiện đại, trung tâm kinh tế của cả nước. Qua tùy bút này của Minh Hương chúng ta đã cảm nhận được tình yêu thật nồng nàn và giản dị, tha thiết của ông đối với Sài Gòn.

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Sài Gòn tôi yêu” số 6

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Sài Gòn tôi yêu” số 5

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Sài Gòn tôi yêu” số 6

Tác phẩm “Sài Gòn tôi yêu” là một trong những tập tùy bút nổi bật của Minh Hương viết về Sài Gòn, tác phẩm được ông viết vào tháng 12 năm 1990 và được in trong tập “Nhớ…Sài Gòn”. Tác phẩm là những dòng tâm sự, bộc lộ tình yêu da diết và chân thành và nồng nhiệt của Minh Hương đối với mảnh đất mà ông đã có trên 50 năm gắn bó.

Mở đầu bài tùy bút, Minh Hương đã bày tỏ ngay những tình cảm của mình với thành phố Sài Gòn. Đó là một tình yêu mà còn nồng cháy hơn cả tình yêu đôi lứa của tuổi trẻ “Tôi yêu Sài Gòn da diết…”. Để thể hiện rõ nhất tình yêu của mình, tác giả đã đặt điệp từ “Tôi yêu” ở mỗi đầu câu văn, chúng được nhắc đi nhắc lại như một bản tình ca, để cho người đọc cảm nhận thấy tâm trạng sôi sục, rộn rã của tác giả trong tình yêu. Tình yêu của Minh Hương đối với Sài Gòn là một tình yêu trọn vẹn, ông yêu tất cả mọi thứ thuộc về Sài Gòn, cả những điều xấu xí và không mấy ai chấp nhận của nó.

Phân tích tác phẩm Sài Gòn tôi yêu của tác giả Minh HươngĐối với ông, tình yêu đối với Sài Gòn đã trở thành một phần của cuộc sống, ăn sâu vào máu thịt của ông. “Tôi yêu trong nắng sớm… Yêu cả cái tĩnh lặng của buổi sáng tinh sương với làn không khí mát dịu, thanh sạch trên một số đường còn nhiều cây xanh che chở”. Chính nhờ tinh yêu tha thiết này của ông mà ông đã có một cách cảm nhận thật chính xác và tinh tế về thành phố Sài Gòn. Từng ánh nắng, cơn gió, cơn mưa đều được ông tô vẽ thật đẹp và sống động, ông yêu những điều bình dị, đơn sơ như tiếng ồn ào hay những hàng cây xanh, tất cả mọi thứ đã làm nên Sài Gòn.

Minh Hương yêu Sài Gòn và còn yêu hơn nữa con người Sài Gòn, ông nói về những con người phương Nam nồng hậu, chân thành, bao dung như ánh mặt trời. Họ luôn dang rộng vòng tay chào đón hàng triệu triệu con người từ trăm nẻo đất nước đổ về nơi đây, cùng nhau chung sống hòa hợp tạo nên một thành phố văn minh và phát triển. Nhắc đến con người Sài Gòn không thể không nói về con gái Sài Gòn, bởi họ chính là những bông hoa đẹp nhất đang khoe sắc, tỏa hương làm đẹp cho chính mảnh đất này.

Họ đẹp ở mái tóc dài đen nhánh, chiếc nón vải, áo bà ba trắng, quần đen rộng, dáng đi khỏe khoắn, mạnh dặn, “Cái đẹp thật đơn sơ, đôn hậu”. Trong giao tiếp, con gái Sài Gòn kín đáo thanh lịch, nét đẹp khiến cho bao người phải ngẩn ngơ nhớ thương. Bên cạnh đó, khi nhớ Sài Gòn, tác giả còn nhớ về những người con đã hi sinh cho Tổ quốc, bảo vệ mảnh đất xa xôi. Rồi lại đau xót ngậm ngùi khi thấy con người ngày càng tàn phá thiên nhiên, vô tình đổi thay tiêu cực. Cuối cùng là những lời khẳng định của tác giả về tình yêu đối với Sài Gòn “Vậy đó mà tôi yêu Sài Gòn… Tôi ước mong mọi người nhất là các bạn trẻ, đều yêu Sài Gòn như tôi”.

Có thể thấy, Minh Hương đã từ tình yêu chân thành và tha thiết của mình đối với Sài Gòn mà nói lên mong ước của mình, mong ước mọi người cùng yêu thành phố này. Người đọc qua bài tùy bút này đã có một cái nhìn thật khác về Sài Gòn, cảm nhận được tình yêu nồng nàn và giản dị của Minh Hương.

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Sài Gòn tôi yêu” số 4

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Sài Gòn tôi yêu” số 5

Cảm nhận về thiên nhiên, khí hậu ở Sài Gòn của tác giả Minh Hương trước tiên là sự cảm nhận qua những biểu hiện đặc trưng nhưng khá thất thường của thời tiết Sài Gòn như buổi sáng tinh sương với làn không khí mát dịu, thanh sạch; nắng sớm, một thứ nắng ngọt ngào; buổi chiều lộng gió; những cơn mưa nhiệt đới bất ngờ… Tác giả còn nhìn thấy những thay đổi thất thường của thời tiết như tính nết con người: trời đang ui ui buồn bã, bỗng nhiên trong vắt lại như thuỷ tinh.

Không khí và nhịp điệu sông ở Sài Gòn thể hiện khác nhau qua những thời điểm khác nhau với những hét riêng hết sức độc đáo. Ban ngày thì phố phường náo động, dập dìu xe cộ vào những giờ cao điểm, đêm khuya thì thưa thớt tiếng ồn, buổi sáng tinh sương thì tĩnh lặng với làn không khí mát dịu, thanh lịch. Tác giả đã có cái nhìn hết sức chính xác về nhịp điệu sống Sài Gòn, nơi phồn hoa đô thị.

Cảm nhận về thiên nhiên, khí hậu, nhịp điệu sống của tác giả thể hiện sự gắn bó và am hiểu của tác giả về vùng đất này, đồng thời cũng cho thấy tình yêu thương sâu nặng của tác giả với mảnh đất Sài Gòn. Tình yêu ấy là một tình yêu da diết và được tác giả so sánh như những người đàn ông vẫn ôm ấp bóng dáng mối tình đầu chứa nhiều ngang trái. Tác giả thể hiện tình yêu Sài Gòn ở tất cả khía cạnh, từ những cái đẹp đến những cái còn nhiều khiếm khuyết. Sự bao dung của tác giả đối với những cái đẹp và chưa đẹp của Sài Còn cũng như sự bao dung của Sài Gòn đối với những người nhập cư từ mọi miền đất nước.

Sài Gòn đã ăn sâu vào tâm hồn và trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc đời tác giả. Tác giả yêu và yêu tất cả những gì nơi đây. Từ tôi yêu được lặp lại nhiều lần cho thấy tình cảm của tác giả đối với Sài Gòn. Tôi yêu Sài Gòn da diết…, tôi yêu trong nắng sớm…, tôi yêu thời tiết trái chứng…, tôi yêu cả đêm khuya…, tôi yêu phố phường náo động…, yêu cả cái tĩnh lặng của buổi sáng tinh sương….

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Sài Gòn tôi yêu” số 4

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Sài Gòn tôi yêu” số 3

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Sài Gòn tôi yêu” số 4

Sài Gòn tôi yêu là tùy bút đậm chất thơ được tác giả Minh Hương viết vào cuối tháng 12 – 1990 và in trong tập Nhớ… Sài Gòn (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh – 1994). Nội dung bài văn thể hiện tình cảm yêu mến chân thành, nồng nhiệt và sự gắn bó sâu đậm của tác giả đối với vùng đất trù phú này cùng với những chủ nhân của nó.

Mặc dù là tùy bút nhưng câu trúc bài văn có thề chia làm ba đoạn. Đoạn 1 nêu những ấn tượng chung và tình yêu của tác giả đôi với Sài Gòn. Đoạn 2 là những nhận xét về đặc điểm thiên nhiên và phong cách riêng của người Sài Gòn. Đoạn 3 khẳng định tình yêu tha thiết của tác giả đối với thành phố mang tên Bác.

Những người đã từng sống ở Sài Gòn dù ít hay nhiều đều có chung tâm trạng đi thì nhớ ở thì thương và những ai chưa từng đến thì luôn khao khát được ngắm nhìn tận mắt thành phố được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông”, trung tâm công nghiệp, kinh tế lớn nhất của Việt Nam trong thời ki đổi mới. Với độ tuổi ba trăm năm, Sài Gòn là một thành phố trẻ. Nơi đây hội đủ ba yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Người Sài Gòn rất yêu mảnh đất của mình, nhưng tình yêu của tác giả mới nồng nàn say đắm làm sao.

Sài Gòn vẫn trẻ. Tôi thì đương già. Ba trăm năm so với năm ngàn năm tuổi của Đất nước thì cái đô thị này còn xuân chán. Sài Gòn cứ trẻ hoài như một cây to đương độ nõn nà trên đà thay da, đổi thịt, miễn là cư dân ngày nay và cả ngày mai biết cách tưới tiêu chăm bón trân trọng giữ cái đô thị ngọc ngà này. Cách so sánh trong hai câu mở đầu hơi lạ: Sài Gòn vẫn trẻ. Tôi thì đương già. So sánh độ tuổi của một vùng đất với độ tuổi của một con người mới nghe qua tưởng chừng khập khiễng nhưng nó lại gợi cho người đọc sự liên tưởng cụ thể và sinh động. Vùng đất Sài Gòn là kết quả công cuộc khai phá, mở mang bờ cõi của ông cha. Tuổi của Sài Gòn là ba trăm năm so với bốn ngàn năm tuổi của đất nước thì quả là thành phố này rất trẻ. Sức sống tràn đầy của một đô thị trẻ, đẹp được nhà vàn so sánh với hình ảnh của một cây tơ đương độ nõn nà phơi phới sức xuân.

Với đôi mắt trìu mến, nhà văn nhìn đâu cũng thấy yêu thương: Tôi yêu trong nắng sớm một thứ nắng ngọt ngào, vào buổi chiều lộng gió nhớ thương, dưới những cây mưa nhiệt đới bất ngờ. Tôi yêu thời tiết trái chửng với trời đang ui ui buồn bã bỗng nhiên trong vắt lại như thủy tinh… Điệp từ Tôi yêu đặt ở đầu mỗi câu thể hiện tình cảm chân thành, da diết của nhà văn trước sự đa dạng của thiên nhiên, khí hậu Sài Gòn. Sài Gòn có hai mùa nắng mưa rõ rệt. Bầu trời mùa nào cũng xanh ngăn ngắt, đầy nắng, đầy gió.

Tác giả yêu thích những nét rất riêng của mưa nắng Sài Gòn. Sài Gòn không có mưa phùn, mưa ngâu hay mưa dầm kéo dài hết ngày này sang ngày khác như ở miền Bắc. Mưa Sài Gòn thường vào buổi chiều. Có khi đang đi trên đường Đồng Khởi quận Một, cơn mưa ập tới bất ngờ không tránh kịp nhưng về đến đường Bàn Cờ quận Ba thì trời lại trong veo. Vào mùa này, hễ ra khỏi nhà là người Sài Gòn nhắc nhau phải mang áo mưa phòng thân. Sự thay đổi nhanh chóng, đột ngột của thời tiết được tác giả miêu tả bằng hình ảnh thật chính xác và gợi cảm: trời đang ui ui buồn bỗng nhiên trong vắt lại như thủy tinh.

Vẫn bằng tình cảm yêu thương, tác giả miêu tả không khí và nhịp sống sôi nổi của Sài Gòn trong những thời khắc khác nhau : Tôi yêu cả đêm khuya thưa thớt tiếng ồn. Tôi yêu phố phường náo động, dập dìu xe cộ vào những giờ cao điểm. Yêu cả cái tĩnh lặng của buổi sáng tinh sương với làn không khí mát dịu, thanh sạch trên một số đường còn nhiều cây xanh che chở…

Trong phần đầu bài tùy bút, tác giả đã bộc lộ tình yêu nồng nhiệt, thiết tha của mình đồi với Sài Gòn. Vẻ đẹp của Sài Gòn được nhân lên gấp bội trước con mắt chan chứa yêu thương. Tác giả không chỉ yêu màu nắng ngọt ngào mà còn yêu cả những điều tưởng chừng không mấy dể chịu như sự trái chứng của thời tiết thoắt nắng, thoắt mưa. Cả sự náo động, dập dìu xe cộ vào những giờ cao điểm cũng trở thành những cái đáng yêu, đáng nhớ. Tự biết lòng mình yêu Sài Gòn đến mức thiên vị nên tác giả đã biện minh bằng câu ca dao nói về quy luật tâm lí thông thường của con người: Yêu nhau yêu cả đường đi…

Một chi tiết nhỏ đáng lưu ý là bài kí này được viết từ năm 1990 mà thời điểm hiện tại chúng ta đang sống đã là năm 2014, tất nhiên bộ mặt Sài Gòn đã có nhiều thay đổi. Đô thị được mở rộng ra nhiều hướng với những con đường trải nhựa phẳng lì thẳng tắp, hai bên san sát nhà cao tầng, cửa kính cửa chớp sáng choang. Những chiếc cầu bê tông sừng sững nối đôi bờ sông, giúp cho tàu xe thuận tiện ngược xuôi trăm nẻo. Sài Gòn đã mang dáng dấp của một thành phố công nghiệp hiện đại thời mở cửa, có mối quan hệ giao lưu rộng rãi với khu vực châu Á và toàn thế giới.

Sài Gòn không chỉ đẹp ở cảnh sắc mà còn đẹp ở con người. Con người đã làm cho cảnh sắc Sài Gòn rực rỡ hơn, lung linh hơn. Ở phần đầu bài viết, tác giả miêu tả thiên nhiên Sài Gòn, đến phần sau, tác giả giới thiệu tính cách của người Sài Gòn. Tác giả nhận xét rất đúng về đặc điểm của cư dân Sài Gòn: Ở trên đất địa này, không có người Bắc, không có người Trung, người Nam, người Hoa, người Khơ-me… mà chỉ toàn là người Sài Gòn cả. Mọi người sống hòa hợp với nhau, không phân biệt nguồn gốc, giàu nghèo.

Người trên khắp mọi miền đất nước đổ về Sài Gòn lập nghiệp, sống lâu, sống quen một thời gian dài ở Sài Gòn, rồi cứ ngỡ là mình đã sinh ra ở đây và vô hình trung đã thừa nhận nơi đây là quê quán của mình. Sài Gòn là mảnh đất giàu tiềm năng, có rất nhiều việc kiếm ra tiền nên: Nếu siêng năng, chịu khó thì bạn sẽ được đãi ngộ thân tình như hàng triệu người khác. Sài Gòn là vùng đất trù phú, mỡ màu; là thành phố có nhiều khu công nghiệp, khu kinh tế lớn, nhiều trung tâm thương mại sầm uất cung cấp hàng hóa cho cả nước và xuất khẩu ra nước ngoài qua bến cảng Nhà Rồng rộng lớn và sân bay Tân Sơn Nhất hiện đại.

Thành phố Sài Gòn rộng mở và hào phóng là nơi rất thuận lợi cho người tứ xứ đến đây sinh sống. Ngày nay đã leo lên hơn năm triệu. (Đây là con số của những năm 90, còn đến nay, số dân của thành phố đã lên tới gần tám triệu người).

Phong cách nổi bật của người Sài Gòn cũng được tác giả nhận xét chân thực và đầy thiện cảm: Cách ngày nay gần năm mươi năm, vào đây được gần gũi với người Sài Gòn, tôi đã thấy phong cách bản địa mang nhiều nét đặc trưng. Họ ăn nói tự nhiên, nhiều lúc hề hà, dễ dãi. Phần đông ít dàn dựng, tính toán. Người Sài Gòn cũng như phần lớn người Lục tỉnh rất chân thành, bộc trực…

Con gái Sài Gòn có vẻ đẹp rất tự nhiên, dễ thương. Đây là hình ảnh các cô gái Sài Gòn hồi thế kỉ XX: … tóc buông thõng trên vai, trên lưng, có khi tết bím… Đội nón vải trắng, vành rộng, như nón Hướng đạo. Áo bà ba trắng, đính một túi nhỏ xíu duy nhất bên thân mặt áo. Quần đen rộng. Mang giày bố trắng (giày vải, giày ba-ta) hay xăng đan da. Có người đi guốc vông trơn trắng nõn, quai da, dạng chiếc xuồng hay hình hộp cá mòi. Dáng đi khỏe khoắn, mạnh dạn. Cái đẹp thật đơn sơ, đôn hậu.

Cũng yểu điệu, thướt tha, nhưng theo cung cách Bến Nghé. Cũng e thẹn, ngượng nghịu như vừng trăng mới ló, còn ngập ngừng giấu nửa vành sau áng mây. Nụ cười thiệt tình, tươi tắn và ít nhiều thơ ngây. Trong khi giao tiếp, các cô thể hiện nét đẹp kín đáo của người Á Đông: Bây giờ, khi chào người lớn, các cô ấy (trước 1945) cúi đầu, chắp hai bàn tay lại và xá. Gặp trang lứa bạn bè thì hơi cúi đầu và cười. Cười ngậm miệng, cười chúm chím, cười mủm mỉm, cười he hé, chỉ để lộ vài cái răng hay lộ cả hàm tùy theo mức độ thân quen. Đặc biệt là cặp mắt sáng rỡ, nhí nhảnh, đôi lúc lại ánh lên vài tia hóm hỉnh.

Nét đẹp của người Sài Gòn còn thể hiện ở tinh thần kiên cường, anh dũng, sẵn sàng hi sinh cho Tổ quốc: Tuy nhiên, đến những hồi nghiêm trọng và sôi sục nhất của đất nước thì các cô gái ấy cũng như các chàng trai và các giói đồng bào của Sài Gòn bất khuất, không chút do dự, dấn thân vào khó khăn, nguy hiểm và có khi hi sinh cả tánh mạng, xuyên suốt ba chục năm từ 1945 đến 1975…

Một thoáng ngậm ngùi, bất bình khi nhà văn nghĩ đến những kẻ vô tình hay cố ý tàn phá thiên nhiên: Sài Gòn ngày nay cũng rất ít chim. Đến mùa, một ít nhạn, én bay về trú đông, dưới các mái nhà cao tầng, mái đình, mái chùa. Thỉnh thoảng mới thấy vài chị quạ, chị sáo, vài chị vành khuyên sắc ô, áo già… Nhiều nhứt là họ hàng se sẻ mà bây giờ cũng thấy thưa thớt dần. Trước kia, rất nhiều, cả cò, cả vạc xổng lồng trong Sở thú bay ra làm tổ trên mấy ngọn cây dầu, cây sao cao ngất với các chị cu gáy, chị quạ, chị sáo… Những nòng súng hơi ác độc của những người vô trách nhiệm với môi trường sống và chẳng thèm đếm xỉa đến pháp luật đương bảo vệ thiên nhiên, đang tay bắn giết chim và dơi của thành phố. Đây là đoạn văn hồi ức thể hiện tình cảm nhớ nhung và luyến tiếc của tác giả về một thiên nhiên an lành, phong phú của Sài Gòn trong quá khứ chưa xa.

Kết thúc bài tùy bút, tác giả khẳng định tình yêu sâu đậm của mình đôi với Sài Gòn và khơi dậy trong lòng mọi người tình yêu ấy: Vậy đó mà tôi yêu Sài Gòn và yêu cả con người ở đây. Một mối tình dai dẳng, bền chặt. Thương mến bao nhiêu cũng không uổng công, hoài của. Tôi ước mong mọi người nhất là các bạn trẻ, đều yêu Sài Gòn như tôi.

Sau 17 năm bài tùy bút này ra đời, Sài Gòn có nhiều thay đổi lớn lao. Thành phố Sài Gòn rộng lớn hơn, cao vút lên, đẹp như một bức tranh lộng lẫy. Dù sao, qua bài tùy bút này, tác giả Minh Hương đã để lại trong lòng người đọc ấn tượng khó phai về Sài Gòn – mảnh đất thân thương của đất nước Việt Nam yêu dấu, xứng đáng mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Sài Gòn tôi yêu” số 2

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Sài Gòn tôi yêu” số 3

Sài Gòn tôi yêu là một trong những tùy bút của tác giả Minh Hương viết cuối tháng 12 – 1990 và in trong tập Nhớ… Sài Gòn. Đó là những dòng văn đầy thương nhớ , yêu mến chân thành, nồng nhiệt đối với mảnh đất này.

Mở đầu bài tùy bút tác giả bộc lộ tình yêu nồng cháy của mình với thành phố mang tên Bác. Để thể hiện tình yêu của mình tác giả sử dụng điệp từ “tôi yêu” ở đầu mỗi câu văn được nhắc đi nhắc lại như một khúc ca tình yêu, như để người đọc thể hiện tình yêu sôi sục, rộn rã của nhà văn. Minh Hương yêu tất cả mọi thứ của Sài Gòn , cả những điều xấu xí của nó.

Dường như đối với Minh Hương tình yêu Sài Gòn đã ăn sâu vào máu thịt trở thành một phần cuộc sống của ông. Tôi yêu cả đêm khuya thưa thớt tiếng ồn. Tôi yêu phố phường náo động, dập dìu xe cộ vào những giờ cao điểm. Yêu cả cái tĩnh lặng của buổi sáng tinh sương với làn không khí mát dịu, thanh sạch trên một số đường còn nhiều cây xanh che chở…

Cũng nhờ tình yêu này đã giúp ông cảm nhận được nhận thật chính xác và tinh nhạy về thành phố Sài Gòn. Đó là những giọt nắng “ngọt ngào” vào những buổi sáng dịu ngọt. Hay cái “nhớ thương” những cơn gió lộng buổi chiều, hãy những cơn mưa rào bất chợt của của miền cận xích đạo. Ông yêu cái nhịp sống ồn ào đa dạng của vùng đất này, yêu những con phố rợp bóng cây xanh… những điều bình dị, đơn sơ đó đã tạo nên vẻ đẹp của thành phố phương Nam đầy nắng này.

Ở Sài Gòn, thì không chỉ có cảnh mà còn cả những con người nồng nhiệt ở vùng đất này. Dường như ông muốn bộc lộ nhiều hơn tình yêu của mình về vùng đất này.Nhưng Sài Gòn, còn đẹp ở con người. Những con người phương Nam hồn hậu, nồng ấm, như ánh nắng mặt trời nơi đây. Ở thành phố này, hàng triệu con người từ khắp mọi miền đổ về nơi đây, cùng nhau chung sống hòa hợp tạo nên một thành phố phồn vinh và nồng ấm.

Và nhớ về Sài Gòn thì không thể quên những cô gái Sài Gòn. Nếu như những cô gái Hà Nội e ấp, đoan trang có chút gì phòng kiến. Thì các cô gái Sài Gòn đẹp ở mái tóc dài đen ánh chiếc món vải xinh xinh. Dáng đi khỏe khoắn tự tin nhưng vẫn duyên dáng đầy quyến rũ. Trong giao tiếp, con gái Sài Gòn kín đáo nhưng thanh lịch miệng cười chúm chím đôi mắt tinh nghịch duyên dáng. Một nét đẹp bình dị những khiến bao người phải nhớ thương.

Nhớ Sài Gòn là nhớ về những tình yêu tổ quốc của những người con anh dũng đã hi sinh vì tổ quốc. Những người con ấy, đã hi sinh cả tuổi thanh xuân, cả tính mạng để bảo vệ mảnh đất xa xôi của tổ quốc. Và nhà văn cũng có chút thoáng ngậm ngùi khi nhìn thấy những con người độc ác đã tàn phá thiên nhiên. Hàng loạt các giống chim như: Quạ, sáo, vành khuyên… đều đã bị những nòng súng vô tình sát hại. Những cây xanh đã bị thay thế bằng những nhà cao tầng.

Và để nhấn mạnh thêm tình yêu của mình cuối bài tác giả đã viết. Vậy đó mà tôi yêu Sài Gòn và yêu cả con người ở đây. Một mối tình dai dẳng, bền chặt. Thương mến bao nhiêu cũng không uổng công, hoài của. Tôi ước mong mọi người nhất là các bạn trẻ, đều yêu Sài Gòn như tôi.

Sài Gòn đã có nhiều đổi thay sau trở thành một thành phố hiện đại, trung tâm kinh tế của cả nước. Nhưng qua bài tùy bút của tác giả chúng ta đã cảm nhận được một Sài Gòn thật khác. Một tình yêu thật nồng nàn giản dị, mà một người con nhớ về quê hương của mình.

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Sài Gòn tôi yêu” số 1

Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Sài Gòn tôi yêu” số 2

Sài Gòn tôi yêu là một bài tuỳ bút nằm trong tập tuỳ bút – bút kí Nhớ… Sài Gòn tập I của Minh Hương. Sài Gòn tôi yêu là một cảm nhận sâu sắc và một mối tình đằm thắm chân tình của nhà văn với con người và mảnh đất mà ông gắn bó suốt mấy chục năm.

Bài tuỳ bút mở đầu bằng những ấn tượng chung về Sài Gòn: Sài Gòn cứ trẻ hoài như một cây tơ đương độ nõn nà, trên đà thay da, đổi thịt, miễn là cư dân ngày nay và cả ngày mai biết cách tưới tiêu, chăm bón, trận trọng giữ gìn cái đô thị ngọc ngà này. Một sự cảm nhận thật độc đáo, với hình ảnh so sánh liên tưởng đầy bất ngờ, thú vị.

Từ ấn tượng chung, tác giả đột ngột chuyển sang bày tỏ trực tiếp tình yêu Sài Gòn của mình: Tôi yêu Sài Gòn da diết… Tôi yêu trong nắng sớm, một thứ nắng ngọt ngào, vào buổi chiều lộng gió nhớ thương, dưới những cây mưa nhiệt đới bất ngờ. Tôi yêu thời tiết trái chứng với trời đang âm u buồn bã, bỗng nhiên trong vắt lại như thuỷ tinh. Tôi yêu cả những đêm khuya thưa thớt tiếng ồn. Tôi yêu phố phường náo động, dập dìu xe cộ vào những giờ cao điểm. Yêu cả cái tĩnh lặng vào buổi sáng tinh sương với làn không khí mát dịu, thanh sạch trên một số đường còn những cây xanh che chở.

Ngay trong phần đầu của bài tuỳ bút, tác giả đã bộc lộ tình yêu nồng nhiệt, thiết tha của mình với thành phố Sài Gòn. Điệp từ tôi yêu được điệp lại ở đầu các câu văn như ngân đi ngân lại điệp khúc tình yêu, như nhấn thêm vào bản đàn tâm trạng rộn rã yêu thương của nhà văn. Minh Hương yêu Sài Gòn với tất cả những cái đáng yêu, cả những điều không mấy dễ chịu của nó. Dường như hình ảnh Sài Gòn đã ăn sâu vào trong tiềm thức, trở thành một phần máu thịt không thể thiếu trong cuộc sống của ông.

Tình yêu Sài Gòn sâu nặng khiến nhà văn có được cảm nhận thật chính xác và tinh nhạy về thành phố. Con mắt tinh tường của nhà văn nhận ra cả cái sắc nắng “ngọt ngào” buổi sớm mai, cái “nhớ thương” của cơn gió lộng buổi chiều, cái ào ào đột ngột của những cơn mưa nhiệt đới; cả sự “trái chứng” của thời tiết đang ui ui buồn bã, bỗng nhiên trong vắt lại như thuỷ tinh; cả cái nhịp sống đa dạng của phố phường; thưa thớt về đêm khuya, náo động, dập dìu vào giờ cao điểm; cả cái không khí mát dịu, thanh sạch ở những con đường rợp bóng cây xanh… Tất cả đã tạo nên vẻ đẹp và những nét riêng biệt cho thành phố phương Nam này.

Yêu Sài Gòn, tác giả yêu tất cả những con người Sài Gòn và nhận ra ở họ bao nét đẹp tâm hồn, làm nên một phong cách bản địa mang nhiều nét đặc trưng: Họ ăn nói tự nhiên, nhiều lúc hề hà, dễ dãi. Phần đông ít dàn dựng, tính toán, người Sài Gòn cũng như phần lớn người Lục tỉnh đều rất chân thành, bộc trực. Theo tác giả, phong cách ấy đã được kết tinh, trải nghiệm trong một thời gian dài của cuộc sống, được thử thách trong cam go của lịch sử.

Đăng bởi: Ngọc Ngọc

Từ khoá: 10 Bài văn phát biểu cảm nghĩ bài “Sài Gòn tôi yêu” của Minh Hương hay nhất

Món Ngon Rằm Tháng Giêng Siêu Hấp Dẫn Và Cực Chuẩn

Đối với người Việt ta rằm tháng Giêng (hay còn gọi là Tết Nguyên Tiêu) và rằm tháng Bảy là hai ngày rằm lớn nhất trong năm. Trong ngày rằm tháng Giêng thì mâm cơm thắp hương đặc biệt rất được chú trọng và chỉnh chu.

Dù giản dị hay cầu kỳ thì mâm cơm vào ngày này nhất định phải đầy đủ và thể hiện được tấm lòng của con cháu với tổ tiên.

Món ngon rằm tháng Giêng đầy đủ và hấp dẫn

Thịt gà

Trong mâm cỗ cúng không thể thiếu món thịt gà. Thịt gà có thể luộc, hấp muối hoặc rang gừng, nghệ đều được.

Nhưng đặc biệt, nếu để thắp hương nhiều gia đình vẫn chọn cách chế biến thịt gà luộc bởi đây là cách làm truyền thống vừa giữ được vẻ bóng đẹp, thơm ngon của thịt gà mà lại chuẩn cách làm cơm cúng xưa.

Cách luộc thịt gà sao cho gà chín đều, không bị nát, không bị nứt cũng cần có bí quyết và kinh nghiệm riêng.

Thịt gà luộc rắc thêm lá chanh, chấm với bột canh dầm tiết, chanh, ớt thì ngon hết sảy.

Thịt gà luộc vàng ươm ngọt thanh

Rau xào

Mâm cỗ cúng ngày rằm tháng Giêng nhất định phải có món rau xào. Bạn có thể lựa chọn tùy thích với các loại rau sẵn có như cải chíp xào nấm hương, bắp cải xào lòng, mướp xào lòng hoặc rau xào thập cẩm.

Nếu trong mâm cỗ cúng chay thì các bạn cho thêm các thực phẩm chay bán sẵn như tôm chay, mề chay thì món xào sẽ ngon và hấp dẫn hơn.

Món rau xào với nhiều màu sắc như màu xanh của rau, cam của cà rốt, các loại nấm… sẽ giúp cho mâm cỗ thêm phần đẹp mắt cũng như bổ sung nhiều vitamin và không bị ngấy.

Rau xào thập cẩm giàu vitamin không ngấy

Nem chay

Nem chay trong mâm cỗ cúng rằm tháng Giêng được làm như cách làm nem rán bình thường, chỉ có điều không gồm các thực phẩm mặn như thịt, tôm, cua….

Nước chấm thì thay nước mắm bằng gia vị hoặc dùng đường vàng thì món nước chấm vẫn có màu đẹp như pha bằng nước mắm.

Món nem chay ăn cũng ngon và hấp dẫn không kém gì món nem rán bình thường mà lại cực kỳ dễ làm, nguyên liệu đơn giản, khi thắp hương lại rất thanh tịnh.

Trong ngày rằm tháng Giêng nhiều nhà thường thay thế món nem rán tôm thịt bằng món nem chay này để mâm cỗ cúng thêm chuẩn đúng điệu.

Nem chay giòn tan mà lại thanh tịnh

Canh miến

Ở rất nhiều nơi, sau khi luộc gà người ta thường dùng nước luộc để nấu canh miến rong. Canh miến được nấu với nước luộc gà sẽ vô cùng ngọt, thanh và thơm nức.

Có nhiều người dùng lòng gà để nấu miến hoặc thay bằng thịt băm, kết hợp với cà rốt nạo sợi, nấm hương, mộc nhĩ… giúp cho món ăn vừa có màu đẹp mắt, ngọt lại vô cùng ngon, dễ ăn mà không bị ngấy.

Để canh miến có thêm màu sắc và mùi thơm thì đừng quên cho thêm hành lá và rau mùi giúp cho món ăn tăng thêm phần hấp dẫn gấp bội.

Canh miбєїn nấu nЖ°б»›c luб»™c gГ

Giò xào

Bữa cơm cúng rằm tháng giêng nếu không kể đến món giò xào thì quả thật là thiếu sót. Giò xào ăn có vị giòn giòn của tai lợn, sần sật của lưỡi lợn cùng nấm hương, mộc nhĩ chấm thêm nước mắm có chút hạt tiêu thì quả thật không còn gì để chê.

Cách làm giò xào cũng khá đơn giản và không hề khó, đặc biệt, món giò xào này mà dùng để “nhắm rượu” chắc chắn sẽ khiến cho “tổ nhậu” của gia đình thích mê.

Giò xào thơm ngon, giòn giòn hấp dẫn

Dưa góp ăn kèm bớt ngấy

Đăng bởi: Thành Phước Hứa

Từ khoá: Món ngon rằm tháng giêng siêu hấp dẫn và cực chuẩn

Cảm Nghĩ Của Em Về Nhân Vật Phương Định ❤️️15 Bài Suy Nghĩ Hay

Cảm Nghĩ Của Em Về Nhân Vật Phương Định ❤️️ 15 Bài Suy Nghĩ Hay✅Tuyển Tập Các Bài Văn Mẫu Đặc Sắc Cảm Nhận Về Nhân Vật Phương Định.

I. Mở bài: Giới thiệu về truyện Những ngôi sao xa xôi và nhân vật Phương Định: Bước ra từ những trang văn của Lê Minh Khuê, Phương Định chính là đại diện tiêu biểu cho bao thế hệ thanh niên tham gia vào cuộc kháng chiến chống Mỹ lúc bấy giờ.

II. Thân bài:

a. Hoàn cảnh của Phương Định

b. Phương Định- cô gái trẻ xinh đẹp, nữ tính, lạc quan và kiêu hãnh

Là một cô gái khá. Hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như cái đài hoa loa kèn. Còn mắt tôi thì các anh lái xe bảo: “Cô có cái nhìn sao mà xa xăm!”.

Thích ngắm mình trong gương, thích làm điệu một cách duyên dáng và đầy kiêu hãnh.

Cô mê hát, say mê hát với những bài dân ca trữ tình, quan họ Bắc Ninh, cô thích Ca- chiu- sa của Hồng quân Liên Xô nữa.

c. Phương Định- nữ thanh niên xung phong dũng cảm và trách nhiệm

Cô cẩn thẩn, tỉ mỉ trong từng hành động khi thực hiện nhiệm vụ.

Không hề tỏ ra sợ hãi, đặt mục đích công việc lên hàng đầu.

Bằng tinh thần và sự quả cảm ấy, Định luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

d. Phương Định – người đồng đội tình cảm

Quan tâm đến chị Thao, em Nho và xem họ như người thân.

Định lo lắng, chăm sóc cho em Nho khi Nho bị thương.

Hát cho chị Thao nghe, và dành sự trân trọng, tin yêu cho người đồng đội chỉnh chu, bản lĩnh của mình.

Sau trận mưa đá bất ngờ, Định nhớ về gia đình với những kỉ niệm mát lành của quê hương.

III. Kết bài: Cảm nhận chung về nhân vật: Trong chiến trường bom đạn, cô gái nhỏ bé Phương Định như vì sao xa xôi, lấp lánh, tỏa sáng, vun đắp cho cuộc đời thêm ý nghĩa. Cô mãi là gương sáng cho bao thế hệ học tập, noi theo.

Hình ảnh những người nữ thanh niên xung phong – “tổ trinh sát mặt đường” luôn được gợi nhắc trong nhiều tác phẩm, trong đó có Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê và nhân vật Phương Định. Hiện lên trong tác phẩm, Phương Định được giới thiệu như một cô gái người Hà thành, còn rất trẻ, vừa rời ghế nhà trường. Thế nên, điều đầu tiên người ta thấy ở cô là một sự trong sáng, hồn nhiên, thân thương đến vô cùng.

Đến với chiến trường, giáp mặt với cái chết hàng giờ, thế nhưng, cô chưa bao giờ thôi mơ mộng, chưa bao giờ từ bỏ niềm yêu thích ca hát. Mang trong mình hành trang vào thời chiến là những kỉ niệm về bạn bè, thầy cô, mái trường, về người mẹ thân yêu, cô trở thành một trong ba cô gái gan dạ nhất tuyến đường Trường Sơn này. Nhiệm vụ của cô là phá bom, ngày ba quả, có ngày năm quả, thế nhưng, nó chẳng làm cho cô mất đi sự nữ tính, trong sáng và xinh đẹp của mình.

Cô yêu mến đồng đội, cảm phục những người lính mà cô gặp trên tuyến đường này bằng tất cả sự trong sáng, hồn nhiên của mình. Lê Minh Khuê thật xuất sắc khi dựng lên một Phương Định giàu sức sống, chân thực, gan dạ và dũng cảm đến như thế! Tác phẩm khép lại, chúng ta vẫn chẳng thể nào quên hình ảnh của cô gái Hà thành với “hai bím tóc dày” “ngồi bó gối mơ màng” khung cửa sổ ấy và hình ảnh người nữ thanh niên xung phong xinh đẹp đang trong giây phút phá bom nghẹt thở đáng vô cùng ấy.

Tham khảo👉 Cảm Nhận Về Nhân Vật Phương Định ❤️️ 15 Bài Văn Hay

Hướng dẫn các em học sinh cách viết đoạn văn cảm nghĩ của em về nhân vật Phương Định đơn giản nhưng vẫn giàu hình ảnh sinh động.

Nếu ai đã từng đọc tác phẩm Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê, hẳn không thể nào quên được hình ảnh của ba cô gái xinh đẹp Phương Định, Nho và Thao, đặc biệt là Phương Định. Cô là một cô gái trẻ người Hà thành, yêu đời, hồn nhiên nhưng cũng rất giàu cá tính. Đến với chiến trường bom đạn khốc liệt nhưng hành trang trong cô lại là sự hồn nhiên trong sáng, mơ mộng, là những kỉ niệm về một thời học sinh thơ ngây, những kỉ niệm ngày còn bên mẹ ở quê hương.

Cô thiếu nữ Phương Định ấy, ngay giữa bom rơi đạn nổ vẫn hồn nhiên, vô tư, thích ca hát, thích được làm dáng, thích được thêu thùa. Ở cô, người ta thấy một chiều sâu của một tâm hồn tràn đầy tình cảm và một sự tự trọng rất bản năng của người con gái. Sống cùng với hai người bạn chiến đấu, cô gắn kết với họ bằng tình cảm nồng thắm, chân thật. Sống giữa chiến trường, cũng là một người chiến sĩ nhưng Phương Định vẫn cảm phục những người chiến sĩ Trường Sơn quả cảm, anh dũng.

Ở nơi đây, công việc của cô cùng hai người bạn là phá bom, mở đường, ngày ba quả, ngày năm quả. Tưởng chừng như cái chết luôn bủa vây lấy cuộc sống của những cô gái trẻ ấy khiến họ mất đi niềm vui, nhưng không, nó chỉ giúp cô luyện nên một Phương Định bản lĩnh và dũng cảm hơn người. Phương Định vẫn luôn như thế, vẫn thích ca hát, vẫn luôn hoàn thành mọi nhiệm vụ và vẫn hồn nhiên như thế.

“Nêu cảm nghĩ của em về nhân vật Phương Định chi tiết” -đây không hẵn là một đề bài khó, tuy nhiên các em có thể tham khảo bài văn sau đây để cũng cố thêm các ý văn hay cho bài viết của mình.

Phương Định để lại trong lòng độc giả niềm yêu mến, cảm phục đối với thế hệ trẻ Việt Nam trong những ngày tháng bom rơi đạn nổ ấy. Và hơn thế, điều đó trở thành động lực để thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay viết tiếp nét son trong trang sử của thời đại mình.

Lê Minh Khuê là nhà văn thuộc thế hệ những tác giả bắt đầu sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. Với tài năng và sự tìm tòi, khám phá của mình, bà sớm gặt hái được nhiều thành công về mảng đề tài là cuộc sống chiến đấu của những thanh niên xung phong và bộ đội trên tuyến đường Trường Sơn.

“Những ngôi sao xa xôi” là một trong những truyện ngắn tiêu biểu của Lê Minh Khuê. Nhân vật chính trong tác phẩm – Phương Định – là nhân vật giành được nhiều sự yêu mến, cảm phục của người đọc bởi vẻ đẹp ngoại hình, tâm hồn và sự dũng cảm, ngoan cường, bình tĩnh ung dung trước hiểm nguy.

Phương Định gây cảm tình đầu tiên cho người đọc bởi vẻ trẻ trung, xinh đẹp của một cô gái mới lớn. Cô là người nhạy cảm và luôn quan tâm đến hình thức của mình. Cô tự đánh giá: “Tôi là con gái Hà Nội. Nói một cách khiêm tốn, tôi là một cô gái khá. Hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn. Con mắt tôi thì các lái xe bảo: Cô có cái nhìn sao mà xa xăm”, vẻ đẹp ấy của cô đã hấp dẫn bao chàng trai: “các anh pháo thủ và lái xe hay hỏi thăm tôi”. Điều đó làm Phương Định tự hào nhưng điều đặc biệt là cô chưa dành riêng tình cảm cho ai.

Nhân vật chính của tác phẩm còn khiến người đọc khâm phục bởi sự dũng cảm ngoan cường, bình tĩnh ung dung vượt lên khó khăn nguy hiểm.

Phương Định cùng những người bạn của mình sống và chiến đấu trên một cao điểm, giữa một vùng trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn. Chị phải chạy trên cao điểm đánh phá của máy bay địch. Sau mỗi trận bom, chị cùng đồng đội phải lao ra trọng điểm, đo và ước tính khối lượng đất đá bị bom địch đào xới, đếm những quả bom chưa nổ và dùng những khối thuốc nổ đặt vào cạnh nó để phá. Đó là công việc mạo hiểm với cái chết luôn gần kề tạo áp lực khiến thần kinh vô cùng căng thẳng.

Thực hiện công việc đó, Phương Định và đồng đội phải rất bình tĩnh và họ đã thực sự bình tĩnh, ung dung một cách lạ thường. Thậm chí, với họ, công việc ấy đã trở thành bình thường: “Công việc của chúng tôi là ngồi đây. Khi có bom nổ thì chạy lên, đo khối lượng đất lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ và khi cần thì phá bom”.

Mặc dù đã quen với công việc nguy hiểm này, thậm chí một ngày có thế phải phá tới năm quả bom nhưng mỗi lần vẫn là một thử thách tột độ với thần kinh của Phương Định.

Từ khung cảnh và không khí chứa đầy căng thẳng đến cảm giác là các anh cao xạ ở trên kia cũng đang theo dõi từng động tác cử chỉ của mình để lòng dũng cảm ở cô như được kích thích bởi sự tự trọng: “Tôi đến gần quả bom… đàng hoàng mà bước tới” ở bên quả bom kề sát với cái chết im lim và bất ngờ, từng cảm giác của con người như cũng trở nên sắc nhọn hơn: “Thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động sắc đến gai người cứa vào da thịt tôi. Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành”.

Đặc biệt, Phương Định càng khiến người đọc yêu mến, trân trọng hơn bởi tâm hồn trong sáng, tinh tế. Chị rất giàu tình cảm với đồng chí, đồng đội, quê hương và vô cùng lạc quan yêu đời.

Giống như hai người đồng đội trong tổ trinh sát, Phương Định yêu mến những người đồng đội trong tổ và cả đơn vị của mình. Đặc biệt, cô yêu mến và cảm phục tất cả những người chiến sĩ mà hằng đêm cô gặp trên trọng điểm của những con đường vào mặt trận. Phương Định đã lo lắng, sốt ruột khi đồng đội lên cao điểm chưa về.

Chị yêu thương và gắn bó với bạn bè nên có những nhận xét tốt đẹp đầy thiện cảm về Nho, phát hiện ra vẻ đep dễ thương ”nhẹ, mát như một que kem trắng” của bạn. Chị còn hiều và đồng cảm sâu sắc với những sở thích và tâm trạng của chị Thao.

Phương Định cũng là người con gái có một thời học sinh hồn nhiên, vô tư bên người mẹ thân thương trong một căn buồng nhỏ nằm trên một đường phố yên tĩnh hồi Hà Nội còn thanh bình trước chiến tranh. Những kỉ niệm ấy luôn sống lại trong cô giữa chiến trường dữ dội. Nó là niềm khao khát làm dịu mát tâm hồn trong hoàn cảnh căng thẳng, khốc liệt của chiến trường.

Vào chiến trường đã ba năm, làm quen với những thử thách hiểm nguy, giáp mặt hàng ngày với cái chết nhưng ở Phương Định không mất đi sự hồn nhiên trong sáng và cả những mơ ước về tương lai: “Tôi mê hát”, “thích nhiều bài”.

Phương Định là cô thanh niên xung phong trên tuyến đường huyết mạch Trường Sơn những ngày kháng chiến chống Mĩ. Chị tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm tháng hào hùng ấy. Họ là những người không tiếc tuổi thanh xuân, hiến dâng trọn vẹn cho Tổ quốc những gì quý giá nhất:

Xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mĩ

Mà lòng phơi phới dậy tương lai”

Trong “Những ngôi sao xa xôi”, Lê Minh Khuê đã miêu tả chân thực và sinh động tâm lí nhân vật. Tác phẩm được kể từ ngôi thứ nhất tạo thuận lợi cho tác giả miêu tả thế giới nội tâm qua việc để nhân vật tự sự về mình.

Nhân vật Phương Định trong “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê mang những đặc điểm tốt đẹp tiêu biểu cho tâm hồn những chàng trai, cô gái thanh niên xung phong lên đường chống Mĩ trong những năm tháng vất vả mà hào hùng của dân tộc. Phương Định để lại trong lòng độc giả niềm yêu mến, cảm phục đốì với thế hệ trẻ Việt Nam trong những ngày tháng bom rơi đạn nổ ấy. Và hơn thế, điều đó trở thành động lực để thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay viết tiếp nét son trong trang sử của thời đại mình.

Với đề bài “Nêu suy nghĩ của em về nhân vật Phương Định hay đặc sắc” thì nếu các bạn chưa có ý tưởng triển khai bài viết như thế nào thì có thể học hỏi cách hành văn như bài văn mẫu sau đây.

Tác giả Lê Minh Khuê là một trong những nữ nhà thơ nổi tiếng của văn học hiện đại Việt Nam. Khi viết về đề tài người lính, những tác phẩm của bà luôn toát lên niềm tự hào, vẻ tươi sáng, trong trẻo cùng những mong ước vô cùng tươi đẹp. Và có lẽ, Những ngôi sao xa xôi mãi là một món quà đẹp đẽ, đáng trân trọng và nâng niu mà Lê Minh Khuê đã dành tặng riêng cho những đọc giả đam mê văn học của bà. Qua tác phẩm, hẳn chúng ta cũng không thể nào quên được một Phương Định trẻ trung, xinh đẹp và đầy dũng cảm, tài năng.

Phương Định là một cô gái trẻ, theo tiếng gọi của Tổ Quốc, cô tạm biệt Hà Nội thân yêu, tạm biệt gia đình thương mến để tình nguyện vào miền Nam chiến đấu. Đó là một biểu hiện đầy cao đẹp của lòng yêu nước. Một cô gái nhỏ nhắn vào nơi ác liệt, cô gái tuy nhỏ bé nhưng làm nhiệm vụ không hề nhỏ bé chút nào, cô cùng hai người đồng đôi là chị Thao và em Nho thực hiện công việc phá bom, giữ cho con đường huyết mạch Bắc – Nam được an toàn cho bộ đội ra trận, cung cấp vũ khí, lương thực cho tiền tuyến.

Công việc luôn phải đối mặt với hiểm nguy, căng thẳng nhưng bằng sự khéo léo, bản lĩnh và dũng cảm của mình, Định đã hoàn thành nhiệm vụ một cách nhanh chóng, an toàn. Hình ảnh cô chiến sĩ trẻ cẩn thận phá bom, hồi hộp từng giây chờ bom nổ, cô không quan tâm đến tính mạng của mình mà chỉ kiên định với mục tiêu sắt đá là làm sao để gỡ được quả bom đang đe dọa con đường huyết mạch.

Không chỉ là một chiến sĩ dũng cảm và trách nhiệm trên chiến trường, ở Phương Định còn toát lên một vẻ đẹp của tấm lòng nhân hậu, yêu thương và giàu tình cảm. Sống xa nhà, chỉ một cơn mưa đá thoáng qua cũng khiến cô bồi hồi nhớ về ba mẹ, về Hà Nội thân thương. Tình yêu gia đình gắn liền với tình yêu quê hương, đất nước thiết tha, nhiệt thành mà cũng vô cùng dịu dàng, kín đáo.

Phương Định cũng dành nhiều sự quan tâm cho những người đồng đội của mình, cô xem Chị Thao, em Nho như người thân trong gia đình, để ý đến tính cách, sở thích của mọi người. Trong mắt Định, Nho là một cô bé trong trẻo, thích kẹo, tuy trẻ con nhưng vô cùng trách nhiệm. Chị Thao chín chắn, thích thêu thùa, may vá, thích chép lời bài hát dù chị hát không hay.

Cô lo lắng khi em Nho bị thương, chăm sóc Nho bằng tình cảm của một người đồng đội, một người chị bảo vệ và che chở em. Cô dành tình cảm quý mến và tôn trọng đặc biệt dành cho chị Thao, thích hát cho chị nghe trong những giờ rảnh rỗi. Sống nơi chiến trường gian khó, những tình cảm mà Nho dành cho đồng đội, cho gia đình nơi quê nhà, cho đất nước trong cơn hoạn nạn là điều vô cùng đáng trân quý. Những tình cảm ấy chính là liều thuốc tinh thần quý giá, giúp xua đi những lo lắng, là động lực để đồng đội cùng nhau vượt qua gian khó.

Phương Định cũng là một cô gái tự tin, yêu đời, lạc quan và mơ mộng. Trong chiến trường ác liệt, cô vẫn cất lên lời hát trong trẻo sau những lần làm nhiệm vụ, cô thích hát, và có thể tự bịa ra lời để hát. Niềm say mê ca hát của Định được nuôi dưỡng từ bé, vào chiến trường gian khổ, những khi hát có lẽ là khoảng thời gian cô được sống với niềm đam mê của mình, được cất lời ca trong trẻo.

Cô thích những hành khúc, những làn điệu dân ca. Cô yêu cả những bài Ca chiu sa của Hồng quân Liên xô nữa. Phải yêu và mê hát lắm cô mới thuộc được nhiều như thế. Và chắc hẳn, Phương Định phải hát hay lắm bởi thế mà chị Thao luôn yêu cầu cô hát. Dù cho chiến trường ác liệt, dù bom rơi lửa đạn, cái chết có thể cận kề trong gang tấc, tiếng hát Phương định vẫn cất lên. Đó là những câu hát của sự lạc quan, của niềm mê tuổi trẻ, được sống và cống hiến hết mình cho Tổ quốc thân yêu.

Định cũng là một cô gái đầy tự tin và nhạy cảm. Trong trái tim cô luôn dành một tình yêu mãnh liệt và sự khâm phục dành cho những người lính mặc quân phục với ngôi sao trên mũ, dù trước mặt họ cô luôn làm ra vẻ không xao động, không săn sóc, vồn vã.

Qua cách giới thiệu về mình, Định cũng cho thấy vẻ tự tin, kiêu hãnh của một cô gái đất Hà Thành xinh đẹp: “Nói một cách khiêm tốn, tôi là một cô gái khá với hai bím tóc dày tương đối mềm, một cái cổ cao kiêu hãnh như đài hoa loa kèn còn mắt tôi thì các anh lái xe bảo: Có cái nhìn sao mà xa xăm.” Hẳn là một cô gái xinh đẹp với vẻ duyên dáng đầy nữ tính cùng chiều sâu tâm hồn của một cô gái thị thành, Phương Định mới có thể chiếm được cảm tình của những người lính nhiều đến thế.

Qua những lời kể đầy tự nhiên, hấp dẫn, Lê Minh Khuê đã khắc họa thành công một Phương Định bản lĩnh, tự tin và giàu tình cảm. Ở cô là vẻ đẹp đại diện cho con người của một thời đại máu lửa với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Qua Phương Định, ta càng khâm phục và tự hào về thế hệ cha anh đi trước để thấy mình hôm nay phải nỗ lực, cống hiến cho cuộc sống nhằm xây đắp cuộc đời tốt đẹp hơn.

Cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước đã kết thúc từ lâu, thế nhưng hàng ngàn, hàng vạn những con người Việt Nam đã phải ngã xuống để giành lấy sự tự do đó. Trong các tác phẩm viết về những người lính, những cô gái thanh niên xung phong, thì Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê là một tác phẩm được nhiều người ưa thích. Bởi nó mang một sự trong trẻo, đáng yêu lạ thường mà điều đó đến từ Phương Định – nhân vật chính trong câu chuyện.

Phương Định là một trong ba người nữ thanh niên xung phong làm công tác phá bom trên tuyến đường Trường Sơn. Cô là một thiếu nữ trẻ, người Hà thành vừa rời ghế nhà trường chưa được bao lâu. Chắc vì vậy mà Phương Định luôn mang trong mình một sự hồn nhiên, vô tư đến lạ lùng dù ở nơi chiến trường bom đạn khốc liệt này.

Hành trang vào chiến trường của cô thật đặc biệt, đó là những kỉ niệm về thầy cô, bạn bè nơi trường học, là những kỉ niệm về người mẹ thân yêu. Giáp mặt với cái chết hàng ngày, bởi mỗi ngày cô phải phá ít thì ba quả bom, có ngày năm quả, nhưng cô vẫn luôn giữ được sự hồn nhiên, trong trẻo và niềm yêu thích với ca hát. Thế nhưng, Phương Định cũng có cá tính riêng của mình, cô nữ tính, biết điệu đà làm dáng, thế nhưng khi được các anh lính để mắt, dù vui thích và tự hào, cô cũng chẳng vồn vã, săn đón. Đó là cá tính riêng của Phương Định.

Cô yêu mến mảnh đất mình đang công tác, yêu mến đồng đội và thầm khâm phục tất cả những người lính cô gặp trên tuyến đường Trường Sơn này. Giáp mặt với thần chết từng phút giây đã tôi luyện lên một thiếu nữ Hà thành trong sáng là thế nhưng gan dạ, dũng cảm bậc nhất.

Lê Minh Khuê đã thật thành công khi dựng lên hình ảnh một Phương Định đáng yêu là thế, nhưng cũng đầy tự tin, dũng cảm, xứng đáng là một gương mặt tiêu biểu cho lớp thanh niên trí thức tham gia kháng chiến chống Mỹ.

Gợi ý cách hành văn ấn tượng, súc tích thông qua bài văn mẫu cảm nghĩ về nhân vật Phương Định hay nhất sau đây.

Thế hệ trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước bước vào thơ ca đã có nhiều chân dung quen thuộc và đáng yêu, đáng cảm phục: những chiến sĩ lái xe trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật, những cô gái mở đường trong “Khoảng trời hố bom” của Lâm Thị Mĩ Dạ,…

Đến Lê Minh Khuê – một nhà văn thuộc thế hệ những tác giả bắt đầu sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Mĩ – cũng đóng góp một chân dung như thế cho văn học nước nhà: cô gái Phương Định trong truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi”. Đó là một nữ chiến sĩ thanh niên xung phong xinh đẹp, trong sáng, giàu tình cảm và dũng cảm, ngoan cường.

Là một cô gái thanh niên xung phong có nhiệm vụ cùng đồng đội san lấp những hố bom trên tuyến đường Trường Sơn lửa đạn, ngày đêm đối mặt với đất bụi, khói bom nhưng Phương Định không hề mất đi vẻ trẻ trung, xinh đẹp của một cô gái mới lớn. Chị là người nhạy cảm và luôn quan tâm đến hình thức của mình.

Chị tự đánh giá: “Tôi là con gái Hà Nội. Nói một cách khiêm tốn, tôi là một cô gái khá. Hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn. Còn mắt tôi thì các lái xe bảo: Cô có cái nhìn sao mà xa xăm”, vẻ đẹp ấy của chị đã hấp dẫn bao chàng trai “các anh pháo thủ và lái xe hay hỏi thăm tôi”.

Nhưng điều đặc biệt ở Phương Định là không bị “cái nết đánh chết cái đẹp”; ngược lại, chị đã để sự dũng cảm, ngoan cường và vẻ đẹp tâm hồn trong sáng, giàu tình thương tôn thêm vẻ đẹp cho mình.

Phương Định cùng những người bạn của mình sống và chiến đấu trên một cao điểm, giữa một vùng trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn. Chị phải chạy trên cao điểm đánh phá của máy bay địch. Sau mỗi trận bom, chị cùng đồng đội phải lao ra trọng điểm, đo và ước tính khối lượng đất đá bị bom địch đào xới, đếm những quả bom chưa nổ và dùng những khối thuốc nổ đặt vào cạnh nó để phá. Đó là công việc mạo hiểm với cái chết luôn gần kề tạo áp lực khiến thần kinh vô cùng căng thẳng.

Thực hiện công việc đó, Phương Định và đồng đội phải vô cùng bình tĩnh và họ đã thực sự bình tĩnh, ung dung một cách lạ thường. Thậm chí, với họ, công việc ấy đã trở thành bình thường: “Có ở đâu như thế này không: đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay đang ầm ì xa dần. Thần kinh căng như chão, tim đập bất chấp cả nhịp điệu, chân chạy mà vẫn biết rằng có nhiều quả bom chưa nổ, nhưng nhất định sẽ nổ… Rồi khi xong việc, quay lại nhìn đoạn đường một lần nữa, thở phào, chạy về hang”.

Sống giữa nơi sự sống và cái chết tranh giành nhau từng li một như thế nhưng Phương Định không để tâm hồn mình mòn đi. Chị rất giàu tình cảm với đồng chí, đồng đội, quê hương và vô cùng lạc quan yêu đời.

Giống như hai người đồng đội trong tổ trinh sát, Phương Định yêu mến những người đồng đội trong tổ và cả đơn vị của mình. Đặc biệt, cô yêu mến và cảm phục tất cả những người chiến sĩ mà hằng đêm cô gặp trên trọng điểm của những con đường vào mặt trận.

Phương Định đã lo lắng, sốt ruột khi đồng đội lên cao điểm chưa về. Chị yêu thương và gắn bó với bạn bè nên có những nhận xét tốt đẹp đầy thiện cảm về Nho, phát hiện ra vẻ đẹp dễ thương “nhẹ, mát như một que kem trắng” của bạn. Chị còn hiểu và đồng cảm sâu sắc với những sở thích và tâm trạng của chị Thao

Phương Định cũng là người con gái có một thời học sinh hồn nhiên, vô tư bên người mẹ thân thương trong một căn buồng nhỏ nằm trên một đường phố yên tĩnh hồi ở Hà Nội còn thanh bình trước chiến tranh. Những kỉ niệm ấy luôn sống lại trong cô giữa chiến trường dữ dội. Nó là niềm khao khát làm dịu mát tâm hồn trong hoàn cảnh căng thẳng, khốc liệt của chiến trường.

Vào chiến trường đã ba năm, làm quen với những thử thách hiểm nguy, giáp mặt hàng ngày với cái chết nhưng ở Phương Định không mất đi sự hồn nhiên trong sáng và cả những mơ ước về tương lai: ”Tôi thích nhiều bài hát, dân ca quan họ dịu dàng, dân ca Ý trữ tình giàu có”.

“Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê đã miêu tả chân thực và sinh động tâm lí nhân vật. Tác phẩm được kể từ ngôi thứ nhất tạo thuận lợi để tác giả miêu tả thế giới nội tâm qua việc để nhân vật tự sự về mình.

Phương Định là cô thanh niên xung phong trên tuyến đường huyết mạch Trường Sơn những ngày kháng chiến chống Mĩ. Qua nhân vật này, chúng ta hiếu hơn thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm tháng hào hùng ấy.

Viết về người lính và chiến tranh là nguồn cảm hứng của rất nhiều nhà thơ, nhà văn. Với Phạm Tiến Duật, ta được đến với sự trẻ trung, ngang tàng của các chiến sĩ Trường Sơn qua “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”. Và đến với “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê ta lại không khỏi thán phục trước tinh thần dũng cảm, tình đồng đội nồng ấm, tâm hồn lạc quan trong sáng của ba nữ thanh niên xung phong mà đề lại ân tượng sâu sắc nhất trong em là Phương Định.

Phương Định cùng Nho và Thao – những cô gái thanh niên xung phong sống trên cao điểm mênh mông khói bụi Trường Sơn và bom đạn hủy diệt của kẻ thù. Công việc của chị và đồng đội trong tổ trinh sát mặt đường là “đo khối lượng đất đá lấp hố bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá bom” để bảo vệ con đường cho những đoàn xe băng về phía trước, góp phần vào sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Công việc của chị thật vinh quang nhưng cũng đầy hi sinh gian khổ. Song chính hoàn cảnh gian khó hiểm nguy ấy đã làm cho chúng ta cảm nhận được những phẩm chất đáng quý của chị.

Cảm nhận đầu tiên về nhân vật Phương Định là vẻ đẹp của tinh thần dũng cảm, thía độ bình tĩnh vượt lên mọi hiểm nguy. Hằng ngày, chị thường xuyên phải chạy trên cao điểm bị bom đạn cày nát mà còn ẩn dấu những quả bom chưa nổ. Điều đó cũng có nghĩa chị luôn phải đối mặt với thần chết. Mỗi ngày, chị phải phá từ 3-5 lần bom, nguy hiểm là vậy nhưng chị vẫn bình thản thậm chí còn thấy thú vị dù trên mình còn có vết thương chưa lành miệng.

Cứ mỗi lần phá bom, đất rắn, tiếng xẻng va chạm vào vỏ quả bom nghe sắc lạnh đến ghê người. Ngay cả lúc ấy, chị vừa trách vừa nhắc nhở mình “phải nhanh hơn chút nữa”, nếu không vỏ quả bom nóng lên hoặc nóng từ bên trong quả bom hay nóng do mặt trời khi đó sẽ rất nguy hiểm”. Xác định được tính chất nguy hiểm, song với tinh thần dũng cảm cùng tình yêu Tổ quốc, chị đã vượt qua tất cả. Thao tác, tư thế, thái độ bình tĩnh khi phá bom là vẻ đẹp đáng quý ở Phương Đinh nói riêng và những cô gái trẻ nói chung.

Có những lúc, chị cũng nghĩ đến cái chết nhưng cái chết này mờ nhạt. Còn ý nghĩa cháy bỏng là “Liệu mìn có nổ bom có nổ không? Làm thế nào để châm mìn lần thứ hai?” Mục đích hoàn thành nhiệm vụ luôn được chị đặt lên trên hết.

Trong chị luôn thường trực tình đồng đội, đồng chí nồng ấm. Tấm long vị tha của chị luôn quan tâm tới đồng đội. Khi chị Nho và Thao ở trên cao điểm, phải ở nhà trực máy nhưng trong lòng Phương Đinh luôn lo lắng, sốt ruột, đứng ngồi không yên. Chị lo lắng đến mức chạy ra chạy vào lắng nghe cả tiếng súng hỗ trợ của các anh bộ đội pháo binh sự lo lắng ấy khiến chị cáu với cả đội trưởng “trinh sát chưa về”. Điều đó thể hiện lòng quan tâm, lo lắng của chị với đồng đội thật sâu sắc.

Chị luôn trìu mến, yêu thương bạn bè, chẳng thế mà chị đã nhận xét về người đồng đội trẻ tuổi-Nho, chị phát hiện ra vẻ dễ thương của Nho “nhẹ, mát mẻ như một que kem trắng”, chị còn hiểu rất rõ sở thích của bạn, của đồng đội. Chị Thao thích ghi bài hát mặc dù chị hát toàn sai nhạc, chị ghi tới ba cuốn sổ dày bài hát, chị Thao còn thích tỉa đôi long mày nhỏ như que tăm, chị hiểu được sự cương quyết, tạo báo nhưng rất đáng gờm trong công việc của chị Thao. Tuy vậy chị Thao rất sợ máu và vắt.

Chị hiểu được ở Nho thích thêu thùa, trên ngực áo của Nho luôn có một bông hoa. Chị còn hiểu được tâm trạng của đồng đội như khi Nho bị thương, chị Thao thì cuống quýt lên còn Nho lại bình tĩnh, gan dạ. Phương Định băng bó, tiêm thuốc và pha sữa cho Nho. Tình cảm đồng đội, đồng chí là ngọn lửa sưởi ấm lòng, là niềm tin, là động lực, là nguồn động viên khích lệ các chị thêm vững lòng trên mặt trận đầy gian nguy này.

Ngược lại, chị Phượng Định cũng rất cần sự cổ vũ, động viên của đồng đội. Chị cảm thấy ấm lòng và tự tin hơn khi cảm thấy ánh mắt dõi theo, khích kệ của các anh chiến sĩ pháo binh. Chị được rất nhiều chiến sĩ cảm mến. Điều đó càng làm tình đồng đội, đồng chí trong chị thêm sâu đậm biết bao!

Nét nổi bật và cũng là điểm hấp dẫn nhất của Phương Định với người đọc chúng ta là tâm hồn trong sáng, giàu mơ mộng, là sự hồn nhiên như trẻ thơ của chị. Chị là cô gái Hà Nội vào chiến trường khói lửa, chị vẫn hay nhớ nhà, nhớ những kỉ niệm tuổi thơ. Chị hay hát, hay cười một mình, ngắm mình trong gương. Chị tự đánh giá mình là “một cô gái khá”. Chị có cái điệu đà của người Hà Nội nhưng là cái điệu thật đáng yêu vì nó hồn nhiên và vô cùng chân thực.

Qua nhân vât Phương Định, ta càng hiểu thêm về những vẻ đẹp đáng quý của những cô giá thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn nói riêng và thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm tháng hào hùng ấy. Âm vang của những câu hát sau sẽ luôn vang vọng trong con người Việt Nam với lòng tự hào đầy trân trọng:

Văn mẫu suy nghĩ về Phương Định chọn lọc được chia sẻ sau đây sẽ là nguồn tài liệu hữu ích dành cho các em học sinh.

Lê Minh Khuê là nhà văn có sở trường về truyện ngắn trong những năm chiến tranh kháng chiến chống Mĩ. Truyện của bà đều viết về cuộc sống chiến đấu của thanh niên xung phong và bộ đội trên tuyến đường Trường Sơn năm 1971, trong lúc kháng chiến chống Mĩ dân tộc đang diễn ra ác liệt thì truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi ra đời viết về sự dũng cảm hi sinh của những người trẻ tuổi trên đường Trường Sơn. Đó là vẻ đẹp ba cô gái thanh niên xung phong và nổi bật nhất là Phương Định nhân vật kể chuyện.

Phương Định nhân vật xưng tôi người kể truyện lựa chọn cách trần thuật ấy là chủ định của nhà văn, mọi hình ảnh sự kiện nhân vật nơi trọng điểm ác liệt này được tái hiện bởi cái nhìn, thái độ chính người trong cuộc có điều kiện đi vào thế giới nội tâm bộc lộ tâm tư suy nghĩ của nhân vật, một cốt truyện tâm lí. Ngôn ngữ giọng điệu phù hợp với nhân vật.

Phương Định là nữ sinh thủ đô vào chiến trường cô mang theo sự vô tư hồn nhiên khi đón nhận trận mưa đá ngắn ngủi rồi những kỉ niệm tuổi thơ, nhớ về mẹ ngôi nhà những ngôi sao lớn trên bầu trời thành phố, nó vừa là niềm khao khát vừa làm dịu mát tâm hồn giữa khoảnh khắc căng thẳng khốc liệt của chiến trường.

Phương Định một cô gái mộng mơ hồn nhiên, trong sáng, yêu đời. Phương Định thích ca hát, cô đem cả lòng say mê vào chiến trường, cô thích hát những hành khúc bộ đội, những bài quan họ, say mê đến nỗi chỉ cần thuộc nhạc thôi là có thể bịa ra lời mà hát. Tiếng hát cất lên sống với phút giây bình yên đó là tinh thần lạc quan yêu đời cao cả của nữ thanh niên xung phong chống Mĩ. Cô gái có hình thức đẹp Phương Định không tự nói nhiều về mình nhưng chỉ qua mấy lời tự kể hai bím tóc dày tương đối mềm, một cái cổ cao kiêu hãnh như đài hoa…

Cô có cái nhìn sao mà xa xăm là người được các anh chiến sĩ quan tâm nhiều nhất nhưng Phương Định thường đứng xa nhìn đi nơi khác, nhưng trong lòng luôn yêu quí và thấy những người đẹp nhất, thông minh nhất là những người mặc quân phục có ngôi sao trên mũ. Điều đó khẳng định Phương Định là cô gái hồn nhiên trong sáng sống có lí tưởng biết đặt nhiệm vụ chung trên tình cảm riêng tư, sống hòa đồng với đồng đội của mình, làm nhiệm vụ phá bom san lấp đảm bảo thông tuyến đường – một công việc mà thần chết luôn chờ trực.

Xong Phương Định không chịu thua kém, luôn hành động chuẩn xác thành thực, bình tĩnh, dũng cảm mọi ngày phải phá năm quả ít nhất ba quả nổ chậm, mỗi lần phá bom là cảm giác khác nhau.

Lúc đầu Phương Định thấy căng thẳng, hồi hộp, thần kinh căng như chão, tim đập, chân chạy mà biết khắp xung quanh có những quả bom chưa nổ, có thể bây giờ hoặc chốc nữa. Thần chết có thể đến thăm bất cứ lúc nào… Mỗi lúc căng thẳng Phương Định lại có cảm giác như có ánh mắt của các anh cao xa dõi theo mình Phương Định nói “tôi sẽ không đi khom…”. Cảm giác ấy khiến Phương Định trở lên sắc nhọn. Thế rồi nín thở lắng nghe và chờ thế thôi rất nguy hiểm khi mảnh bom văng tới.

Qua những chi tiết tái hiện cảnh ấy, người đọc thấy được sự khốc liệt của chiến tranh và chính sự khốc liệt ấy đã tô luyện lớp người anh hùng như Phương Định.

Thế hệ trẻ Việt Nam sẽ càng biết ơn các chiến sĩ Trường Sơn, chúng ta càng ra sức học tập để rèn luyện, tiếp bước các cha anh ta để xây dựng một đất nước ngày càng phồn vinh và tự chủ. Chúng ta biết ơn cô gái Phương Định và đồng đội của cô, học tập tinh thần xung quanh, sự quả cảm không sợ hi sinh của các cô gái ấy vào công cuộc xây dựng đổi mới đất nước hôm nay.

Cung cấp cho bạn đọc bài văn mẫu “cảm nghĩ của em về nhân vật Phương Định” được chọn lọc từ facebook sau đây.

Kháng chiến chống Mĩ là thời đại đau thương, mất mát mà cũng đầy anh hùng, vĩ đại của dân tộc ta, đó cũng là thời đại của những thanh niên xung phong trẻ tuổi, lãng mạn, lên đường nhập ngũ vì tương lai đất nước:

“Xẻ dọc trường sơn đi cứu nước

Mà long phơi phới dậy tương lai”

Sáng tác về họ, ta không thể nhắc đến Những ngôi sao xa xôi của nhà văn Lê Minh Khuê, với cô thanh niên xung phong Phương Định. Cô gái Hà Thành xinh đẹp, mơ mộng nhưng ẩn sau đó còn là sự kiên cường, dũng cảm. Trước khi lên đường nhập ngũ Phương Định có một tuổi thơ êm đềm bên gia đình mình tại Hà Nội.

Phương Định là cô gái mang vẻ đẹp điển hình của người con gái Hà Nội, hai bím tóc dày và dài, tương đối mềm, chiếc cổ cô cao, kiêu hãnh như một chiếc đài hoa loa kèn. Và đặc biệt là đôi mắt xa xăm đầy mộng mơ, trong đó ẩn chứa một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm.

Cô gái Hà thành đầy mơ mộng, lãng mạn ấy đã dũng cảm lên đường, bỏ lại con phố nhỏ yên tĩnh, tạm biệt cha mẹ vì đất nước thống nhất. Những kỉ niệm tuổi thơ êm đềm đó như một liều thuốc tinh thần, tiếp thêm niềm tin và sức mạnh, giúp Phương Định vượt qua mọi khó khăn trong chiến đấu.

Cô gái ấy khi vào chiến trường Trường Sơn khói bom lửa đạn không còn thấy cái mềm yếu của vẻ bề ngoài mà thay vào đó là một người con gái với những phẩm chất của một người anh hùng. Phương Định có tinh thần trách nhiệm cao với công việc. Công việc của cô đặc biệt nguy hiểm, thường xuyên phải đối mặt với cái chết: Một ngày phải phá bom 5,7 lần, ngày nào ít 3 lần. Nhưng khi có lệnh là cô lên đường, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ phá bom, mở đường cho những đoàn xe về đích an toàn.

Không chỉ vậy, cô còn hết sức gan dạ, dũng cảm, nó được thể hiện rõ nhất trong một lần Phương Định phá bom. Mặc dù đã quen thuộc với công việc này, nhưng lần nào tới gần quả bom cô cũng thấy hồi hộp, căng thẳng “thần kinh căng như chão”. Bởi khung cảnh ẩn chứa sự nguy hiểm “im lặng đến phát sợ”, cây xơ xác, đất nóng, khói đen vật vờ, không khí ngột ngạt báo hiệu điềm chẳng lành, sự sống trở nên mong manh.

Ở bên cạnh quả bom, kề sát với cái chết im lìm, bất ngờ cảm giác của cô trở nên sắc nhọn để bình tĩnh, quyết đoán thực hiện các thao tác phá bom một cách nhanh chóng. Nhưng ngay sau đó cô đã nhận định “Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành”. Suy nghĩ ấy đã cho ta thấy sự can đảm, bản lĩnh, dũng cảm của Phương Định khi đối mặt với cái chết. Để sau đó cô chạy đua với thời gian thực hiện chính xác từng thao tác phá bom.

Lúc này Phương Định nghĩ về cái chết nhưng nó chỉ là một khái niệm mờ nhạt. Bởi trong tâm trí cô chỉ băn khoăn một câu hỏi duy nhất: “Liệu bom có nổ không? Nếu không thì làm thế nào để châm lần thứ hai. Rõ ràng với những suy nghĩ ấy, hình ảnh Phương Định hiện lên không chỉ là một người dũng cảm, gan dạ mà còn là một người có tinh thần trách nhiệm cao.

Không chỉ vậy, cô còn có tinh thần đồng đội sâu sắc. Những người lính lái xe Trường Sơn trao truyền sức mạnh cho nhau bằng nồi cơm giữa rừng, cái bắt tay vội vã qua ô cửa kính vỡ: “Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới/ Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi” “Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời/ Chung bát đĩa nghĩa là gia đình đấy” (Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật). Thì Phương Định lại có những cách rất riêng thể hiện sự gắn bó với các đồng đội.

Trong khi chị Thao và Nho đi trinh sát chưa về Phương Định đã rất lo lắng. Lúc trực điện thoại cô cảm thấy “những gì đã qua, những gì sắp tới không còn đáng kể gì nữa, có gì lí thú đâu nếu các bạn tôi không về”. Phải chăng vì thế mà cô đã gắt với trung đội trưởng khi anh hỏi han tình hình. Nho bị thương Phương Định chăm sóc rất chu đáo, tận tình. Cô rửa vết thương, băng bó, pha sữa cho Nho. Trước nỗi đau của đồng đội cô không còn tâm trí để hát và đâm cáu với chị Thao dù hiểu những tình cảm chị giành cho Nho.

Đằng sau vẻ đẹp anh dũng, kiên cường là hình ảnh của một cô gái hết sức mơ mộng, nữa tính, đầy nhạy cảm. Bắt gặp cơn mưa giữa rừng, cô cuống cuồng tận hưởng, dường như âm thanh của chiến tranh, không gian đầy mùi bom đạn không thể cản niềm vui thích của cô trước trận mưa rào. Đây là phút giây thư giãn làm dịu mát tâm hồn cô trong hoàn cảnh sống chiến đấu vô cùng khốc liệt.

Cơn mưa đá dù tạnh rất nhanh nhưng đã đánh thức những kỉ niệm tuổi ấu thơ nơi phố phường Hà Nội. Nơi ấy có mẹ, có những em nhỏ tung tăng đá bóng. Tất cả đã trở thành hành trang tinh thần, tiếp cho cô thêm sức mạnh chiến đấu.

Đặc biệt, ngòi bút của Lê Minh Khuê trong đoạn văn này trở nên giàu chất thơ hơn khi khắc họa những khoảng lặng trong tâm hồn Phương Định. Nếu khi cơn mưa đến niềm vui con trẻ trong cô mở tung ra thì khi mưa tạnh Phương Định lại thẫn thờ tiếc nuối không nói nổi cùng với đó là nỗi nhớ da diết về một quá khứ êm đềm, bình yên. Từ đó ta thấy được một tâm hồn nhạy cảm, trong sáng, dễ vui dễ buồn.

Qua nhân vật Phương Định, người đọc không chỉ thấy sự tỏa sáng của phẩm chất anh hùng mà còn hình dung được thế giới nội tâm phong phú của cô. Ngòi bút Lê Minh Khuê miêu tả nội tâm nhân vật chân thực, sống động. Phương Định là hình ảnh tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mỹ.

Tham khảo 🌺Cảm Nhận Về Nhân Vật Bé Thu ❤️️ngoài bài văn Cảm Nghĩ Của Em Về Nhân Vật Phương Định

“Nêu cảm nhận của em về nhân vật Phương Định hay” – với yêu cầu này thì các em không thể nào bỏ qua bài văn mẫu đặc sắc sau đây được.

Những ngôi sao xa xôi viết về những thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ ác liệt. Tác phẩm xây dựng thành công ba nhân vật Nho, Thao, Phương Định, mỗi người có những nét tính cách riêng nhưng ở họ đều tựu chung vẻ đẹp của tinh thần anh dũng, quả cảm, tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. Nổi bật nhất chính là Phương Định, cô gái đại diện cho vẻ đẹp của thời đại lúc bấy giờ.

Phương Định là con gái Hà Nội xung phong vào chiến trường khói bom lửa đạn dù tuổi đời còn trẻ. Cô bỏ lại Hà Nội thân thương có cha mẹ, có bạn bè để thực hiện nhiệm vụ lớn hơn, đó là nhiệm vụ cứu nước. Cô có tuổi thơ êm đềm, hồn nhiên bên gia đình trước khi chiến tranh xảy ra. Những kỉ niệm ngọt ngào, sâu lắng ấy chính là liều thuốc tinh thần đắc lực làm dịu mát, động viên tâm hồn cô sau những giờ phút khốc liệt ở chiến trường.

Về ngoại hình, cô tự nhận xét mình “là một cô gái khá. Hai bím tóc dày, tương đối mềm và một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn. Còn mắt tôi thì các anh lái xe bảo: “cô có cái nhìn sao mà xa xăm”, chính vì đôi mắt ấy nên Phương Định thích ngắm mình trong gương để chiêm ngưỡng đôi mắt dài dài, màu nâu và rất hay nheo lại như đang chói nắng.

Trong tác phẩm chỉ duy nhất Phương Định được miêu tả về đôi mắt, bởi đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, thể hiện con người tính cách của mỗi cá nhân. Miêu tả đôi mắt Phương Định tác giả cho thấy đó là một tâm hồn đầy tinh tế, nhạy cảm, nữ tính mà cũng hết sức kiên cường.

Đằng sau vẻ ngoài ấy lại là một người con gái có trách nhiệm cao trong công việc và tinh thần dũng cảm, kiên cường. Phá bom là việc đặc biệt nguy hiểm, thường xuyên phải đối mặt với cái chết, ngày phá bom đến năm lần, ngày nào ít thì ba lần. Nhưng mỗi khi có mệnh lệnh là cô lên đường, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, giúp những đoàn xe được lưu thông an toàn. Lúc nhận lệnh phá bom, Phương Định dõng dạc nhận “Tôi một quả trên đồi”.

Cô tuân thủ mệnh lệnh một cách bình thản, coi đó là chuyện bình thường, đó là công việc hàng ngày. Trong quá trình phá bom có đôi khi cô nghĩ về cái chết, nhưng nó chỉ là ý nghĩ thoảng qua, còn điều cô quan tâm nhất là làm thế nào để bom nổ. Khi thực hiện nhiệm vụ phá bom ban đầu cô rất căng thẳng, hồi hộp “thần kinh căng như chão” nhưng khi cảm thấy ánh mắt của các chiến sĩ đang dõi theo, động viên, khích lệ cô không đi khom lưng mà đàng hoàng bước đến . Chính lòng tự trọng ấy đã khuyến kích cô, giúp cô chiến thắng.

Để rồi sau đó cô thực hiện từng thao tác phá bom thuần thục, chạy đua với thời gian để vượt qua cái chết. Và giây phút chờ đợi đã qua “Thật may bom đã nổ. Thắng rồi”. Phương Định đã hoàn thành công việc. Đây quả là một cuộc đấu trí gan góc, kiên cường. Từ đó cho ta thấy tinh thần, ý chí và lòng dũng cảm của người con gái nhỏ bé, bình dị nhưng không bao giờ chịu khuất phục.

Không chỉ vậy, cô còn có tinh thần đồng đội sâu sắc. Cô yêu thương những người đồng đội của mình bằng cả trái tim, bằng sự quan tâm rất đỗi chân thành. Khi chị Thao và Nho đi trinh sát chưa về cô vô cùng lo lắng, “sốt ruột tôi chạy ra ngoài một tí” “tôi lo”. Trực điện thoại cô cảm thấy “Thời gian bắt đầu căng lên. Trí não tôi cũng không thua. Những gì đã qua, những gì sắp tới … không đáng kể nữa. Có gì lí thú đâu, nếu các bạn tôi không quay về?”

Cũng chính vì thế khi nhận được điện thoại từ đại đội trưởng cô gắt gỏng trả lời: “trinh sát chưa về”. Lúc Nho gỡ bom bị thương, Phương Định đã vô cùng lo lắng, nhưng cô lại hết sức bình tĩnh moi đất kéo Nho lên, rồi lau rửa vết thương, chăm sóc chu đáo, tận tình cho cô em gái nhỏ. Chính tinh thần đồng đội khăng khít ấy đã gắn bó họ lại với nhau, chăm sóc, yêu thương và che chở cho nhau trong những năm tháng khốc liệt của chiến tranh.

Sau vẻ gan dạ, kiên trường ở Phương Định còn hiện lên là một cô gái có tâm hồn trong sáng, nhạy cảm, đáng yêu. Cô là người rất nhạy cảm, mang những nét đặc trưng của con gái. Cô quan tâm đến vẻ ngoài của mình, luôn tự hào về nó, được mọi người chú ý nhưng Phương Định không tỏ ra vồn vã mà luôn kín đáo, kiêu kì. Cô thường khoanh tay trước ngực, đứng ra xa và nhìn đi nơi khác.

Thực ra đấy là một cách làm duyên rất nữ tính. Có lẽ đây chính là nét đẹp của những người con gái Hà Thành, luôn tự ý thức được vẻ đẹp của bản thân và trân trọng vẻ đẹp ấy của mình.

Sự hồn nhiên yêu đời của cô được thể hiện qua những lần cô hát và những bài cô tự bịa trong lúc rảnh rỗi. Vẻ đẹp của sự hồn nhiên còn được biểu lộ rõ trong lần bất chợt gặp cơn mưa đá ở chiến trường. Dưới cơn mưa bất chợt cô bất ngờ, cuống cuồng tận hưởng, bỏ lại cái dữ dội của bom đạn, cái khắc nghiệt của chiến trường.

Ở người con gái ấy vẫn có sự hồn nhiên, lạc quan. Đây chính là giây phút thư giãn, giúp cô lấy lại tinh thần sau những giờ chiến đấu căng thẳng. Cơn mưa đá dễ đến dễ đi nhưng đã gợi khợi cho cô về những kỉ niệm tuổi thơ nơi ấy có gia đình, bè bạn. Tất cả đã trở thành hành trang tinh thần, tiếp cho cô sức mạnh chiến đấu.

Tác phẩm được trần thuật ở ngôi thứ nhất, người kể là Phương Định, việc lựa chọn ngôi kể phù hợp đã tạo nên thành công của tác phẩm. Ngôi kể thứ nhất tạo điều kiện để tác giả biểu hiện thế giới nội tâm và những suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật, cũng như khắc họa được sự hồn nhiên, lạc quan giàu tình cảm của cô trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt. Từ đó làm hiện lên vẻ đẹp tâm hồn của những con người trong chiến tranh.

Gấp lại trang sách người đọc càng khâm phục hơn nữa vẻ đẹp phẩm chất của Phương Định: kiên cường, anh hùng, dũng cảm, mà cũng rất đỗi mơ mộng, tinh tế. Cô là đại diện tiêu biểu cho thế hệ thanh niên Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mỹ. Chính những con người ấy đã đem hết tuổi xuân, sức trẻ để cống hiến, bảo vệ tổ quốc.

Tham khảo 🌺Cảm Nhận Nhân Vật Mị Trong Đêm Tình Mùa Đông ❤️️ 10 Mẫu

Bài văn cảm nhận của em về nhân vật Phương Định trong truyện Những ngôi sao xa xôi sẽ giúp các em có thêm nhiều thông tin hay và thú vị về nhân vật đặc biệt này.

Truyện Những ngôi sao xa xôi kể về một tổ thanh niên xung phong nhận nhiệm vụ trinh sát mặt đường tại một trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn. Tổ trinh sát gồm ba cô gái là Định, Nho và Thao. Họ phải đối mặt với thần chết trong những lần phá bom, thậm chí mấy lần trong một ngày. Cuộc sống giữa chiến trường dù khắc nghiệt và nguy hiểm nhưng họ vẫn có được niềm vui hồn nhiên của tuổi trẻ, những giây phút thanh thản và thơ mộng.

Cả ba cô gái yêu thương và gắn bó với nhau như chị em. Phần cuối truyện, tác giả tập trung miêu tả hành động và tâm trạng của các nhân vật, chủ yếu là Phương Định. Trong một lần phá bom, cô bị thương, cô được sự săn sóc chu đáo của hai đồng đội. Những ngôi sao xa xôi là một trong số những tác phẩm đầu tay của Lê Minh Khuê, viết vào năm 1971, lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra ác liệt.

Truyện cho thấy tâm hồn trong sáng, lòng dũng cảm, sự hồn nhiên và cuộc sống chiến đậu nhiều gian khổ, hi sinh nhưng vẫn lạc quan của các nhân vật nữ thanh niên xung phong. Đặc biệt, nhân vật Phương Định được tác giả miêu tả chân thực, sinh động bằng nhiều thủ pháp nghệ thuật độc đáo.

Vào chiến trường được ba năm, đã quen với những thử thách và nguy hiểm, giáp mặt hàng ngày với cái chết, nhưng Phương Định vẫn không đánh mất sự hồn nhiên, trong sáng và những ước mơ về tương lai. Nét cá tính ở nhân vật được thể hiện khá rõ là sự nhạy cảm, hay mơ mộng và sở thích ưa ca hát.

Cũng giống như hai người bạn trong tổ trinh sát, Phương Định yêu mến các đồng đội trong tổ và cả đơn vị mình. Hơn nữa cô cũng mến yêu và cảm phục những người chiến sĩ mà cô gặp hàng đêm trên trọng điểm con đường vào mặt trận. Trong phần đầu truyện, Phương Định hiện lên là một cô gái nhạy cảm và quan tâm đến hình thức của mình. Hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa kèn. Còn đôi mắt thì các anh lái xe bảo: “Cô có cái nhìn sao mà xa xăm!”.

Phương Định biết mình được nhiều người, nhất là các anh lính để ý và có thiện cảm. Điều đó làm cô thấy vui và tự hào, nhưng chưa dành riêng tình cảm cho một ai. Nhạy cảm, nhưng cô lại không hay biểu lộ tình cảm của mình, luôn tỏ ra kín đáo trước đám đông, tưởng như là kiêu kì.

Ở đoạn hồi tưởng của nhân vật về tuổi học trò, tác giả làm nổi rõ nét tính cách hồn nhiên, vô tư, một chút tinh nghịch và mơ mộng của một thiếu nữ. Chẳng hạn, chỉ một trận mưa đá vụt qua cũng đánh thức ở nhân vật này rất nhiều kỉ niệm và nỗi nhớ về thành phố quê hương, gia đình và tuổi thơ thanh bình của mình. Tâm lí nhân vật Phương Định trong một lần phá bom được miêu tả rất cụ thể, tinh tế đến từng cảm giác, ý nghĩ, dù chỉ thoáng qua trong giây lát.

Mặc dù rất quen công việc nguy hiểm này, nhưng mỗi lần vẫn là một thử thách đối với thần kinh. Ở bên quả bom, kề sát với cái chết im lìm và bất ngờ, từng cảm giác của con người như cũng trở nên sắc nhọn hơn. Thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động sắc đến gai người, cứa vào da thịt tôi. Tồi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành. Tiếp đó là cảm giác căng thẳng chờ đợi tiếng nổ của quả bom.

Tóm lại, ngòi bút của Lê Minh Khuê đã miêu tả sinh động, chân thực tâm lí nhân vật, làm thể hiện một thế giới nội tâm phong phú. Cách nhìn và thể hiện con người thiên về cái đẹp, sự trong sáng, cao thượng.

Viết về cuộc sống và chiến đấu của những cô gái thanh niên xung phong trên một cao điểm ở tuyến Trường Sơn trong những năm chiến tranh chống Mĩ cứu nước, Những ngôi sao xa xôi đã làm nổi bật tâm hồn trong sáng, giàu mơ mộng, tinh thần dũng cảm, cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hi sinh nhưng rất hồn nhiên, lạc quan của họ. Đó chính là hình ảnh đẹp, tiêu biểu về thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mĩ.

Để hoàn thành tốt bài văn trên lớp thì các em học sinh không nên bỏ qua bài văn mẫu “Cảm nghĩ của em về nhân vật Phương Định ấn tượng”.

“Những ngôi sao xa xôi” là một trong số những tác phẩm đầu tay của Lê Minh Khuê, viết vào năm 1971. Lúc cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước diễn ra ác liệt. Trong truyện có nhân vật Phương Định là nhân vật tiêu biểu trong lớp thanh niên xung phong Việt Nam. Đó là một cô gái hồn nhiên nhưng rất dũng cảm, gan dạ – một cô gái thanh niên xung phong trẻ trung, hay mơ mộng.

Truyện kể về nhóm nữ trinh sát mặt đường gồm Thao, Nho và Phương Định. Công việc của họ cực kỳ nguy hiểm và có thể mất mạng bất cứ lúc nào. Đó là quan sát máy bay thả bom của giặc, đo đất đá, san lấp hố bom, kiểm tra những quả bom chưa nổ và phá bom.

Công việc nguy hiểm là thế nhưng họ vẫn luôn yêu đời, hồn nhiên, thích ca hát, tâm hồn mơ mộng, đặc biệt là nhân vật Phương Định. Họ luôn gắn bó, yêu thương nhau như chị em dù cho tính nết mỗi người mỗi khác. Cơn mưa đá ở cuối chuyện để lại trong lòng Phương Định bao xuyến xao, hoài niệm.

Cũng như bao cô gái mới lớn khác, Phương Định rất nhạy cảm và hay quan tâm đến ngoại hình của mình. Cô tự đánh giá về mình: “Tôi là cô gái Hà Nội. Nói một cách khiêm tốn tôi là một cô gái khá. Có hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như hoa loa kèn”. Còn đôi mắt của cô được các anh lính lái xe nhận xét: “Cô có cái nhìn sao mà xa xăm”. Cô biết mình được nhiều người nhất là các anh lính lái xe để ý và có thiện cảm. Điều đó làm cô vui và tự hào.

Nhưng cô không hay biểu lộ tình cảm của mình, cô luôn kín đáo giữa đám đông. Trong khi các cô gái khác vây quanh các anh bộ đội còn cô thì: “Thường đứng ra xa, khoanh tay trước ngực và nhìn đi nơi khác, môi mím chặt tưởng như kiêu kỳ”. Nhưng thực ra trong suy nghĩ của cô những người đẹp nhất, thông minh, can đảm, cao thượng nhất là những người mặc quân phục có ngôi sao trên mũ. Và cô còn dành tình yêu, niềm cảm phục cho những người lính chiến sĩ hàng đêm cô gặp trên trận địa.

Bên cạnh đó Phương Định là một cô gái hồn nhiên, trong sáng và có nhiều ước mơ về tương lai. Cô hay mơ mộng và rất thích hát. Thường cứ thuộc điệu nhạc nào đó rồi bịa ra lời bài hát. Lời bài hát đôi lúc lộn xộn, ngớ ngẩn đến cô cũng ngạc nhiên, đôi khi bò ra mà cười một mình.

Cô thích ngồi bó gối mơ màng và thường nhớ về kỉ niệm bên mẹ và gia đình, đặc biệt qua một trận mưa đá, ta cảm nhận được sự hồn nhiên của cô. Cô reo lên vui mừng khi phát hiện mưa đá: “Mưa đá! Cha mẹ ơi! Mưa đá!…”. Và cô tiếc thẫn thờ khi mưa tạnh và cảm thấy nhớ “nhớ một cái gì đấy, hình như mẹ tôi, cái cửa sổ hoặc những ngôi sao to trên bầu trời thành phố”.

Dù mơ mộng hồn nhiên nhưng Phương Định vẫn là một cô gái rất gan dạ, dũng cảm có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. Điều đó thể hiện qua một lần phá bom. Mặc dù đã quen với công việc nguy hiểm này, thậm chí một ngày có thể phá bom đến bốn, năm lần nhưng mỗi lần vẫn là một thử thách từ thần kinh đến cả ý nghĩ.

Từ khung cảnh và không khí chứa đầy sự căng thẳng: “Vắng lặng đến phát sợ, cây xơ xác, đất nóng, khói đen vật vờ trong không trung…”. Đến cảm giác “cảm thấy có ánh mắt của các anh chiến sĩ dõi theo mình nên cô sẽ không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi có thể đàng hoàng mà bước tới”.

Đến lúc ở bên quả bom đào, xới, với những cảm giác hồi hộp, căng thẳng và thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động sắc đến gai người cứa vào da thịt. Cô rùng mình và nhận ra sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí, vỏ quả bom nóng lên, một dấu hiệu chẳng lành”. Trong lúc chờ bom nổ, cô có thoáng nghĩ đến cái chết nhưng là một cái chết mờ nhạt. Cô không sợ hi sinh mà chỉ sợ bom không nổ vì nếu như vậy sẽ không thông đường cho đoàn xe ra trận được.

Qua đó, có thể thấy Phương Định là một hình ảnh tiêu biểu cho thế hệ Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước ác liệt. Cùng với cô là tính cách của sự hồn nhiên, lạc quan, dũng cảm và gan dạ, không sợ hi sinh vì tương lai tươi sáng của đất nước. Qua Phương Định, ta cảm nhận sự anh hùng của dân tộc và cuộc chiến đấu đầy ác liệt và gian khổ.

Góp phần xây dựng thành công trong câu chuyện, tác giả đã sử dụng ngôi kể thứ nhất, người kể cũng chính là nhân vật chính. Nghệ thuật miêu tả tâm lý, sinh động thể hiện được thế giới nội tâm phong phú của nhân vật trong chuyện.

Gấp trang sách lại nhưng hình ảnh Phương Định trong “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê cứ lung linh trong tâm trí chúng ta. Nó khiến ta bồi hồi, xúc động, họ – những cô gái thanh niên xung phong cho ta thấy được một bức tranh thời chiến tranh thật đáng tự hào và cảm phục biết bao dân tộc Việt Nam anh hùng. Chúng ta hiện giờ tuy vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường nhưng cần phải luôn luôn nỗ lực, ra sức học tập, rèn luyện đạo đức thật tốt để trở thành những người chủ của đất nước trong tương lai.

Gợi ý 👉Cảm Nhận Nhân Vật Mị Trong Đêm Tình Mùa Xuân ❤️️bên cạnh bài Cảm Nghĩ Của Em Về Nhân Vật Phương Định

Hướng dẫn cách viết văn cảm nghĩ của em về nhân vật Phương Định ngắn hay với những câu từ sinh động.

Hình ảnh Phương Định – một trong ba cô gái của “tổ trinh sát mặt đường” trong truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” đã được nhà văn Lê Minh Khuê khắc họa rất thành công.

Thật vậy, hình ảnh Phương Định hiện lên vô cùng đáng yêu đáng mến, một cô gái Hà Nội xinh xắn nhưng chỉ khiêm tốn nhận mình là “khá” với “hai bím tóc dày, tương đối mềm”, “cái cổ cao kiêu hãnh như đài hoa loa kèn”, còn đôi mắt, đôi mắt tuyệt đẹp, đôi mắt mà các anh lái xe vẫn hết lời khen ngợi “Cô có cái nhìn sao mà xa xăm!”. Một vẻ đẹp thật nữ tính và có chiều sâu!

Bước chân vào chiến trường, hành trang duy nhất mang theo là những kỉ niệm về những ngày tháng hồn nhiên của thời thiếu nữ bên gia đình trong “một căn nhà nhỏ” để rồi cô chợt nhớ nhà, nhớ mẹ, “nhớ những ngôi sao to trên bầu trời thành phố”, “cái vòm tròn nhà hát” hoặc “bà bán kem…”…Tất cả như ùa về trong giây lát. Phải chăng chính những kỉ niệm hồn nhiên, trong sáng của thời thiếu nữ nơi quê nhà thân thương ấy đã làm dịu mát lòng cô ngay giữa chiến trường bom đạn ác liệt?

Phương Định còn rất thích hát, cô thích “dân ca quan họ mềm mại dịu dàng”, “thích Ca-chiu-sa của Hồng Quân Liên Xô”, thích “dân ca Ý trữ tình giàu có”. Cô hát với một niềm lạc quan, yêu đời tha thiết, tiếng hát át tiếng bom, và cái ác liệt của chiến tranh cũng đâu thể ngăn cản được niềm vui thích rất đỗi ngây thơ đến trẻ con của Định, cô “vui thích cuống cuồng” khi bắt gặp một trận mưa đá trên cao điểm.

Chao ôi, có ai ngờ rằng ở người con gái tưởng chừng như kiêu kì ấy lại có một tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn ruột thịt như chị em hơn bao giờ hết với Nho và cả chị Thao nữa.

Không những thế, Phương Định còn là một nữ thanh niên xung phong hết sức can trường quả cảm, cô rời chiếc ghế nhà trường xung phong vào phục vụ tuyến đường Trường Sơn máu lửa để rồi từng ngày chạy trên cao điểm, từng giờ từng phút đếm bom rơi, bom nổ, ước lượng khối đất đá lấp vào hố bom, thậm chí phá bom nếu cần. Ngày ngày phải đối mặt với Tử thần nhưng dường như cô không hề quan tâm đến cái chết, cô luôn đặt nhiệm vụ lên hàng đầu và hoàn thành tốt công việc.

Đọc “Những ngôi sao xa xôi” ta như thấy được ở người con gái ấy hình ảnh của cả thế hệ thanh niên xung phong trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước “Xẻ dọc trường Sơn đi cứu nước/Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Và những trang văn của Lê Minh Khuê đã khép lại nhưng hình ảnh một cô gái Hà Nội với “hai bím tóc dày” đang “ngồi bó gối mơ màng” bên khung cửa sổ vẫn còn mãi trong lòng người đọc.

Văn mẫu Cảm nghĩ của em về nhân vật Phương Định điểm cao sau đây là tài liệu tham khảo hữu ích để các em có thể ôn tập hiệu quả.

Đeo sách bên mình núi nhỏ núi to

Em là cô thông tin hay là cô y tá

Dốc cao quá anh chỉ lo em ngã

Em cười dài khiến dốc bớt chênh vênh”

Đúng vậy, lần đầu tiên đội quân tóc dài được xuất hiện trong kháng chiến và đi vào thơ ca rất đẹp mà cao quý. Đó là những con người có tâm hồn trong sáng, giàu mơ mộng, tinh thần dũng cảm lạc quan trong chiến đấu. Mà có lẽ khi nói đến họ ta không thể nào quên được cây bút truyện ngắn Lê Minh Khuê. Nhà văn chuyên viết về tuổi trẻ trên tuyến đường Trường Sơn và công cuộc đổi mới sau này. Trong đó tiêu biểu nhất là bài “Những ngôi sao xa xôi”, và để lại nhiều ấn tượng trong lòng người đọc đó là nhân vật Phương Định.

Phương Định là một trong ba thành viên của tổ “trinh sát mặt đường” cùng thực hiện một nhiệm vụ quan trọng đảm bảo thông suốt mạch đường máu giao thông:

“Chuyện kể rằng em cô gái mở đường

Để cứu con đường đêm ấy khỏi bị thương

Cho đoàn xe kịp giờ ra trận

Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa

Đánh lạc hướng thù hứng lấy làn bom”

Phương Định là cô gái Hà Nội nhạy cảm, hồn nhiên và thích mơ mộng, cô thường sống với những kỉ niệm nơi thành phố quê hương mình. Phương Định từng có những tháng ngày học sinh hồn nhiên đẹp và đáng yêu, cô sống vô tư với mẹ. Phương Định có một căn phòng nhỏ gác hai ở một ngõ nhỏ yên tĩnh và thanh bình tại Hà Nội. Và giờ đây trong những ngày tháng căng thẳng ở chiến trường cuộc sống đó đã trở thành kỉ niệm của cô.

Những kỉ niệm đó vừa thể hiện khát vọng cuộc sống nơi quê hương vừa là liều thuốc động viên tinh thần Phương Định nơi tuyến lửa khốc liệt. Sống nơi chiến trường đã ba năm, luôn kề bên cái chết nhưng cô vẫn thể hiện sự hồn nhiên thơ mộng. Ở chiến trường Phương Định nổi bật giữa các cô gái với “hai bím tóc dày tương đối mềm, một cái cổ cao kiêu hãnh như đài hoa loa kèn”. Đôi mắt của Phương Định được các anh lái xe bảo “cô có cái nhìn sao mà xa xăm”. Đúng là một cô gái đẹp đã làm bao chàng trai đắm đuối say mê.

Có nhiều pháo thủ và lái xe “hỏi thăm” và viết “những bức thư dài gửi đường dây” cho Phương Định. Cô có vẻ kiêu kì là “điệu” khi tiếp xúc với một anh bộ đội nói giỏi nào đấy, nhưng trong suy nghĩ của cô thì “những người đẹp nhất, thông minh can đảm và cao thượng nhất là những người mặc quân phục, có ngôi sao trên mũ”. Cô biết mình được nhiều người, nhất là các anh lính trẻ chú ý và có thiện cảm, nhưng cô không biểu lộ tình cảm của mình và tỏ ra rất kín đáo vì vậy mà trông cô đáng yêu và duyên dáng hơn.

Phương Định là cô gái rất hồn nhiên yêu đời giàu cá tính, và đặc biệt rất thích hát. Hồi ở nhà cô hát say mê có lúc cô hát ầm ĩ làm ông bác sĩ hàng xóm mất ngủ…Và rồi cô mang cả lòng yêu mến ca hát vào chiến trường Trường Sơn ác liệt. Định thích hát “ những bài hành khúc bộ đội, những điệu dân ca quan họ mềm mại dịu dàng, thích ca chiu sa của Hồng quân Liên Xô, thích dân ca Ý trữ tình giàu có” Phương Định còn bịa ra cả những lời hát, thế mà chị Thao vẫn “ say mê” chép vào sổ tay.

Phương Định hát trong khoảng khắc “ im lặng” khi máy bay trinh sát “ rè rè” cơn bão lửa sắp ụp xuống cao điểm Định hát để động viên chị Thao, động viên mình và Nho. Hát khi khi “ máy bay rít bom nổ, nổ trên cao điểm, cách cái hàng này khoảng 300m”. Hát trong không khí ngột ngạt “ khói lên và cửa hang bị che lấp”. Đúng là “tiếng hát át tiếng bom” của cô gái trong tổ trinh sát mặt đường, của những con người “ khao khát làm nên những sự tích anh hùng”.

Tiếng hát đã át đi những cái gì dữ dội của bom đạn khốc liệt nơi chiến trường để nhường chỗ cho một cái gì đó yên ả, thơ mộng và lãng mạn hơn. Qua đó ta thấy được Phương Định hiện ra trước mắt ta là một cô gái trẻ trung thông minh tinh nghịch nhiều mơ mộng. Thật đáng yêu.

Không chỉ hồn nhiên yêu đời mà Phương Định còn có một tâm hồn rất nhạy cảm. Chỉ qua cơn mưa đá vụt qua ở cuối truyện đã làm những kỉ niệm về thành phố quê hương, về gia đình, tuổi thơ…mở tung trong cô.

Nhưng tâm lý của Phương Định thể hiện rõ nhất tinh tế nhất khi cô phá bom “tôi một quả bom trên đồi Nho hai quả dưới lòng đường, chị Thao một quả dưới chân hầm barie cũ”. Trước khung cảnh, cảnh vật bị hủy diệt: cây cỏ xơ xác đất nóng khói đen vật vờ từng cụm trong không trung Phương Định đã dũng cảm và bình tĩnh đến gần quả bom “đàng hoàng mà bước tới” “tôi dùng xẻng nhỏ đào đất dưới quả bom. Đất rắn. Những hòn sỏi theo tay tôi bay ra hai bên.

Thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động sắc đến gai người cứa vào da thịt tôi. Tôi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí. Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành. Hoặc là nóng từ bên trong quả bom. Hoặc là mặt trời nung nóng”. Hai mươi phút đã trôi qua, khi tiếng còi của chị Thao nổi lên là lúc “tôi cẩn thận bỏ gói thuốc mìn xuống cái lỗ đã đào châm ngòi dây mìn cài, cong, mềm. Tôi khỏa đất rồi lại chỗ ẩn nấp của mình”. Tiếng còi lần thứ hai của chị Thao nổ lên cũng là lúc quả bom nổ.

Thế là đã xong bốn quả bom đã nổ. Chị Thao vấp ngã, vết sẹo bóng lên, mảnh dù bay trên lưng, chị cười “ răng trắng đôi mắt mở to”. Nhưng công việc phá bom lần này Nho đã bị thương vì hầm sập. Phương Định moi đất bế Nho lên máu túa ra ngấm vào đất, chị Thao nghẹn ngào. Phương Định rửa vết thương cho Nho, tiêm thuốc pha sữa cho Nho.

Dù Nho bị thương nhưng cô đã được đồng đội của mình chăm sóc lo lắng và chữa trị vết thương. Từ đó, ta thấy được trong công việc phá bom Định rất bình tĩnh dũng cảm hăng say, không hề sợ nguy hiểm. Và đặc biệt trong cô luôn chứa một tình yêu thương ấm áp dành cho đồng đội của mình.

Phá bom là công việc rất nguy hiểm nhưng ta thấy được những cô gái thanh niên xung phong rất dũng cảm trong khói lửa, bom đạn mà vẫn ngời sáng như những ngôi sao. Chiến công thầm lặng của họ bất tử với năm tháng và lòng người. Tổ quốc và nhân dân sẽ không bao giờ quên những nữ anh hùng Đồng Lộc, những nữ anh hùng trên con đường chiến lược Trường Sơn.

Như vậy, Phương Định cô gái Hà Nội xinh đẹp, dũng cảm trong lửa đạn giàu tình yêu thương đồng đội cũng thích làm duyên như cô thôn nữ ngày xưa soi mình xuống giếng làng vừa mỉm cười vừa vuốt tóc. Phương Định tiêu biểu cho thế hệ trẻ tràn đầy lòng nhiệt huyết sẵn sàng hi sinh cho đất nước cho dân tộc:

“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước

Mà lòng phơi phới dậy tương lai”

Trong lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt nhất, không chỉ các chàng trai mà các cô gái thanh niên cũng xung phong ra chiến trường, tham gia vào cuộc chiến tranh để giành lại độc lập cho dân tộc. Đó cũng chính là đề tài gợi nguồn cảm hứng cho các nhà văn, nhà thơ lúc bấy giờ.

Với khả năng sáng tạo và xây dựng hình tượng sống động cùng với những ngày tháng lăn lộn nơi chiến trường, Lê Minh Khuê đã khắc họa thành công hình ảnh những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn với những vẻ đẹp kì diệu của tâm hồn, lòng dũng cảm và tình đồng đội thân thương qua truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi”. Tiêu biểu là nhân vật Phương Định – nhân vật chính của truyện.

Lê Minh Khuê là một cây bút nữ chuyên viết truyện ngắn. Trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc, ngòi bút của bà trong chiến tranh luôn hướng về cuộc sống chiến đấu của tuổi trẻ trên tuyến đường Trường Sơn. Truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” là một trong những tác phẩm tiêu biểu của bà viết về đề tài này.

Truyện xoay quanh nhân vật chính là Phương Định – một cô gái thanh niên xung phong sống cùng đồng đội, Thao, Nho, trên cao điểm, giữa một vùng trọng điểm ở tuyến đường Trường Sơn. Công việc của họ tuy vất vả và nguy hiểm nhưng các cô vẫn có những giây phút hồn nhiên, thơ mộng của tuổi trẻ. Trong một lần phá bom, Nho bị thương, Phương Định và Thao đã chăm sóc rất tận tình. Cũng là lúc có một trận mưa đá ào xuống, Phương Định được sống lại với niềm vui trẻ thơ và cô lại nhớ về thành phố và gia đình.

Phương Định có hoàn cảnh sống và chiến đấu rất khó khăn, gian khổ. Họ sống trên một cao điểm, trọng điểm ở tuyến đường Trường Sơn giữa mênh mông khói bụi và bom đạn hủy diệt của kẻ thù. Công việc của họ là “đo khối lượng đất lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá bom”. Các cô phải đối diện với thần chết từng phút, từng giờ, “thần kinh căng như chão, tim đập bất chấp cả nhip điệu chân chạy mà vẫn biết rằng khắp chung quanh có nhiều quả bom chưa nổ.

Trong “lúc đơn vị thường ra đường vào lúc mặt trời lặn và làm việc có khi suốt đêm” thì các cô, tổ trinh sát mặt đường, phải chạy trên cao điểm cả ban ngày, dưới cái nóng trên 30 độ. Từ cao điểm trở về, mặt các cô ai cũng “hai con mắt lấp lánh”, “cười thì hàm răng lóa lên khuôn mặt nhem nhuốc”. Nhiệm vụ của họ thật quan trọng nhưng cũng đầy gian khổ, hi sinh, thể hiện phần nào hiện thực cuộc chiến đầy khắc nghiệt. Và cũng từ đó, ta thấy sáng ngời lên tinh thần yêu nước, đầy quả cảm của các cô gái thanh niên xung phong

Phương Định là một cô gái Hà Nội vào chiến trường. Ấn tượng đầu tiên về cô là vẻ bề ngoài đáng yêu, trẻ trung, xinh xắn và đầy sức sống. Cô có “hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa lòa kèn”. Đặc biệt, cô có đôi mắt với ánh nhìn sao mà xa xăm. Chẳng phải ngẫu nhiên mà các anh pháo thủ và lái xe lại hay hỏi thăm cô, hay “viết những thư dài gửi đường dây”, “mặc dù có thể chào nhau hằng ngày”.

Phương Định cảm nhận được điều đó, cô cảm thấy vui và tự hào nhưng chưa dành tình cảm cho một ai. Cô chỉ thích ngắm mình trong gương và làm điệu hoặc có vẻ kiêu kì một cách đáng yêu khi thấy các đồng đội của mình tiếp xúc với một anh bộ đội nói giỏi nào đó.

Phương Định vừa bước qua tuổi học trò hồn nhiên, vô tư lự. Cô mang theo vào chiến trường Trường Sơn đầy ác liệt cả những nét đáng yêu của một cô gái tuổi mới lớn, mang theo cả một tâm hồn mơ mộng, rất hồn nhiên, yêu đời. Cô mê hát. Sống trong hoàn cảnh ác liệt của bom đạn trên chiến trường Trường Sơn, lúc nào cũng cận kề với cái chết, cô vẫn không bỏ đi sở thích của mình.

“Thường cứ thuộc một điệu nhạc nào đó rồi bịa ra lời mà hát. Lời tôi bịa lộn xộn mà ngớ ngẩn đến tôi cũng phải ngạc nhiên, đôi khi bò ra mà cười một mình” Tuy vậy, chị Thao vẫn say mê chép những lời bài hát mà Định bịa ra. Cô thích rất nhiều bài, “thích Ca-chiu-sa của Hồng quân Liên Xô. Thích ngồi bó gối mơ màng: “Về đây khi mái tóc còn xanh xanh.. Đó là dân ca Ý trữ tình giàu có”.

Cô hát trong những khoảnh khắc “im lặng” khi máy bay trinh sát rè rè trên đầu, khi cơn bão lửa sắp chụp xuống cao điểm. Cô hát để động viên đồng đội và cũng là để động viên chính bản thân mình, để gửi vào trong tiếng hát nỗi khát khao của tuổi trẻ, của người chiến sĩ, mong được trở về quê hương yêu dấu, được gặp lại người yêu sau bao nhiêu nhớ nhung, chờ đợi.

Phương Định sống với những kỉ niệm của tuổi thiếu nữ vô tư giữa gia đình và thành phố Hà Nội thân yêu. Gặp một trận mưa đá, ở cô lập tức toát lên một niềm vui con trẻ, niềm vui ấy nở tung ra, say sưa, tràn đầy. Cô nhặt những hạt mưa đá để rồi bâng khuâng ngơ ngác khi thấy nó tan biến bất ngờ, cũng nhanh như khi nó ập đến.

“Tôi bỗng thẫn thờ, tiếc không nói nổi…Tôi nhớ một cái gì đấy, hình như mẹ tôi, cái cửa sổ hoặc những ngôi sao to trên bầu trời thành phố” Tất cả mọi kỉ niệm đẹp nhất ở thành phố Hà Nội, về mẹ, về tuổi thiếu nữ trong sáng, vô tư như ùa về, xoáy mạnh trong lòng cô gái. Chính những kỉ niệm đó đã làm dịu mát tâm hồn cô trong hoàn cảnh khốc liệt của chiến tranh.

Cũng như bao cô gái thanh niên xung phong khác, ở Phương Định nổi bật lên tinh thần dũng cảm, thái độ bình tĩnh vượt lên mọi hiểm nguy. Điều đó được thể hiện cụ thể qua một lần phá bom trên cao điểm ở Trường Sơn. Sau những đợt thả bom của giặc, Định cùng đồng đội chạy lên cao điểm để làm nhiệm vụ, nơi vẫn còn có những quả bom chưa nổ. Không gian lúc đó vắng lặng đến phát sợ. Nhưng cô không hề sợ hãi. Cô có cảm giác như các chiến sĩ đang dõi theo mình, vì vậy mà cô cảm thấy an tâm hơn.

Cô quyết định không đi khom, bởi một lý do rất đơn giản “Các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi có thể cứ đường hoàng mà bước tới.” Cảm giác ấy vừa thể hiện lòng tự trọng, vừa là ý chí mạnh mẽ giúp cô dũng cảm vượt qua mọi hiểm nguy.

Phương Định “dùng xẻng nhỏ đào đất dưới quả bom”. Quả bom nằm lạnh lùng. Lưỡi xẻng thỉnh thoảng lại chạm vào quả bom, một tiếng động sắc đến gai người vang lên, cứa vào da thịt cô. “Tôi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí. Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành” Cách miêu tả của tác giả thật tài tình, khiến cho người đọc cũng có thể cảm nhận được âm thanh của hai vật bằng sắt chạm vào nhau rồi lại cảm thấy rùng mình như Định, càng thấy rõ hơn sự bình tĩnh, gan dạ của cô.

Những lúc đối mặt với quả bom sắt lạnh lùng, cô cũng có nghĩ đến cái chết. “Nhưng một cái chết rất mờ nhạt, không cụ thể”. Đó chỉ là một ý nghĩ thoáng qua. Còn điều mà cô quan tâm lúc này là “liệu mìn có nổ không, bom có nổ không? Không thì làm cách nào để châm mìn lần thứ hai?” Trong suy nghĩ của Định, cô luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ thật tốt dù có phải hi sinh. Cảm xúc, suy nghĩ chân thật ấy của cô đã truyền sang người đọc nhiều đồng cảm, yêu mến, trân trọng và kính phục.

Chính nhờ sự gan góc, dũng cảm và tinh thần trách nhiệm cao đã giúp Định thực hiện tốt công việc của mình. Một cô gái như muôn ngàn cô gái khác trên tuyến đường Trường Sơn, đang hàng giờ dệt nên những kì tích cho Tổ quốc thân thương: Những con đường bằng phẳng để các chuyến xe vượt Trường Sơn tiến vào Nam.

Công việc “chọc giận thần chết” đã trở nên quen thuộc với cô, là công việc hàng ngày, nhưng nó không làm cho tâm hồn cô trở nên chai lì, khô cứng. Ở Định, ta còn thấy thường trực một tình cảm đồng đội, đồng chí nồng ấm. Cô luôn yêu thương trìu mến và quan tâm đến đồng đội. Cô lo lắng cho chị Thao lên cao điểm chưa về đến nỗi “nói như gắt vào máy” khi đại đội trưởng hỏi tình hình.

Cô vỗ về và chăm sóc cho Nho tận tình như một cô y tá khi Nho bị thương lúc phá bom: “moi đất, bế Nho đặt lên đùi mình”, “rửa cho Nho bằng nước đun sôi trên bếp than”, “tiêm cho Nho” rồi “pha sữa trong cái ca sắt”. Sự chăm sóc tận tình của Định đã giúp Nho khỏe lại nhanh chóng. Ba cô gái thanh niên xung phong tuy với tính cách khác nhau nhưng họ yêu thương nhau và đối xử với nhau như chị em ruột thịt.

Cô còn dành tình cảm trân trọng, yêu mến của mình cho những người chiến sĩ đang trực tiếp cầm súng chiến đấu trên chiến trường. Trong suy nghĩ của cô, “những người đẹp nhất, thông minh, can đảm và cao thượng nhất là những người mặc quân phục có ngôi sao trên mũ.” Tình đồng đội, đồng chí của Phương Định thật thiêng liêng, cao cả và đáng quý. Chính điều đó đã tiếp thêm sức mạnh cho cô để cô làm tốt nhiệm vụ của mình. Có được trang viết này cũng một phần xuất phát từ tâm hồn giàu tình cảm của cây bút Lê Minh Khuê.

Trường Sơn là nơi thử thách ý chí, khí phách con người Việt Nam. Chính những con người như Phương Định, Thao, Nho đã xướng nên bài ca tuyệt đẹp của “những bông hoa trên tuyến lửa” anh hùng. Giữa sự ác liệt của chiến tranh, vẻ đẹp của họ vẫn tỏa sáng. Sức trẻ, lòng yêu nước, khát vọng hòa bình đã tạo nên sức mạnh cho cuộc kháng chiến gian khổ mà anh hùng. Họ vốn chỉ là những con người rất đỗi bình thường nhưng đã góp phần tạo nên những kì tích anh hùng cho dân tộc:

“Em là người thanh niên xung phong

Không có súng chỉ có đôi vai tải đạn

Giữa tầm đạn thù tấm lòng dũng cảm

Em vượt đường dài tiếp thêm lửa chiến công”

Tóm lại, truyện “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê đã làm sống lại trong mọi người hình ảnh tuyệt đẹp của những cô gái thanh niên xung phong thời kháng chiến chống Mỹ với tâm hồn trong sáng, mơ mộng, tinh thần dũng cảm, cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh nhưng rất hồn nhiên, lạc quan. Phương Định, tuy chỉ là một ngôi sao bé nhỏ, nhưng sẽ luôn tỏa sáng, sáng lấp lánh trên bầu trời Việt Nam. Các cô mãi là những hình ảnh đẹp, tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kì kháng chiến.

Không thể bỏ lỡ cơ hội 🔜Nhận Thẻ Cào 100k Miễn Phí🔜bên cạnh Cảm Nghĩ Của Em Về Nhân Vật Phương Định

Cập nhật thông tin chi tiết về Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng trên website Exas.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!