Xu Hướng 2/2024 # Nhiều Giáo Sư, Phó Giáo Sư Nhảy Flashmob Với Sinh Viên Trong Lễ Khai Giảng # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Nhiều Giáo Sư, Phó Giáo Sư Nhảy Flashmob Với Sinh Viên Trong Lễ Khai Giảng được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Exas.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Hòa chung với niềm vui của sinh viên Khoa Quốc tế, ĐH Quốc gia HN trong Lễ khai giảng ngày 18/9, Ban Chủ nhiệm Khoa, nguyên Chủ nhiệm Khoa Quốc tế và các thầy, cô giáo đã “chào hỏi” các tân sinh viên bằng điệu nhảy flashmob sôi động trẻ trung.

Tham dự buổi Lễ khai giảng, có đại diện các Đại sứ quán Cộng hòa Pháp, Văn phòng Kinh tế và Văn hóa Đài Bắc tại Hà Nội; đại diện lãnh đạo các Ban chức năng, đơn vị thành viên, đơn vị trực thuộc trong ĐH Quốc gia HN; đại diện các đơn vị đối tác của Khoa Quốc tế cùng toàn thể cán bộ, giảng viên, học viên, sinh viên và đặc biệt là 770 tân sinh viên và học viên của Khoa.

Màn “chào hỏi” của Ban Chủ nhiệm Khoa, nguyên Chủ nhiệm Khoa Quốc tế và các thầy, cô giáo với tân sinh viên.

Một điểm vô cùng đặc biệt, có “một không hai” trong buổi lễ hôm nay chính là màn “chào hỏi” của Ban Chủ nhiệm Khoa, nguyên Chủ nhiệm Khoa Quốc tế và các thầy, cô giáo với tân sinh viên.

Trên nền bài hát “Thanh xuân của chúng ta”, Ban Chủ nhiệm Khoa và các thầy, cô giáo đã thể hiện màn nhảy flashmob trẻ trung, tràn đầy sức sống và nhiệt huyết của tuổi trẻ.

Màn nhảy như một lời nhắn gửi đến thế hệ sinh viên mới của Khoa Quốc tế hãy sống những năm tháng của cuộc đời sinh viên thật ý nghĩa, học tập và rèn luyện thật tốt nhưng cũng hãy trải nghiệm cuộc sống thật nhiều. Màn “chào hỏi” đã khiến cả hội trường hào hứng và phấn khích, tạo được ấn tượng mạnh với các tân sinh viên.

Sinh viên hào hứng với điệu nhảy flashmob của các thầy cô

“Lần đầu tiên em được tham dự một Lễ khai giảng ấn tượng và nhiều điều thú vị đến thế, đặc biệt là màn nhảy flashmob của các thầy, cô. Em cũng mới chỉ đi học được chưa đầy một tháng nhưng môi trường học tập ở đây tạo ấn tượng tốt trong em”, Hoàng Long, tân sinh viên K18, chia sẻ.

“Em đã có 3 mùa khai giảng ở Khoa, nhưng đây là lần đầu em thấy cả 3 thầy trong Ban Chủ nhiệm Khoa lên biểu diễn trên sân khấu, thật độc đáo”, Diệu Linh, sinh viên chương trình Kinh doanh Quốc tế, bày tỏ.

Các sinh viên hào hứng với màn nhảy của các thầy cô giáo

Chủ nhiệm Khoa Quốc tế chúng tôi Lê Trung Thành cho biết, số lượng sinh viên, học viên đang theo học tại Khoa hiện nay đã lên đến hơn 2.000, trong đó có cả các sinh viên quốc tế đến từ 5 quốc gia thuộc 3 châu lục gồm: Hàn Quốc, Philippines, Belarus, Ukraina và Cuba.

“Khoa luôn coi người học là minh chứng biểu hiện rõ rệt nhất cho chất lượng đào tạo của mình, do đó luôn tạo mọi điều kiện, phát huy tinh thần tự giác, sáng tạo, dân chủ trong sinh viên để tạo nên một bản sắc riêng của sinh viên Khoa Quốc tế.

Các hoạt động trong công tác sinh viên luôn đề cao tính thiết thực, đa dạng, phong phú về loại hình, sôi động và phù hợp với tuổi trẻ về hình thức tổ chức các hoạt động trong công tác này vừa tạo cho sinh viên Khoa Quốc tế được trải nghiệm một đời sống sinh viên thú vị, nhiều ý nghĩa, đồng thời tiếp cận các cơ hội thực hành, thực tập, phát triển kỹ năng, cơ hội việc làm, hoạt động giao lưu quốc tế, tư vấn hướng nghiệp và nhiều hoạt động ngoại khóa khác”, Chủ nhiệm Khoa chia sẻ.

Chủ nhiệm Khoa Quốc tế Lê Trung Thành đánh trống khai giảng năm học mới 2023 – 2023.

Khoa Quốc tế hiện có 08 chương trình đào tạo bậc đại học (gồm 05 chương trình do ĐH Quốc gia HN cấp bằng và 03 chương trình do trường đại học đối tác nước ngoài cấp bằng) và 05 chương trình đạo tạo thạc sĩ (gồm 01 chương trình do ĐH Quốc gia HN cấp bằng và 04 chương trình do đại học đối tác nước ngoài cấp bằng).

Quy mô đào tạo của Khoa đạt 2615 sinh viên, học viên, trong đó đào tạo đại học chính quy 2123 sinh viên; đào tạo đại học liên két quốc tế 349 sinh viên và đào tạo sau đại học 143 học viên, trong đó đã có các sinh viên quốc tế đến từ 5 quốc gia thuộc 3 châu lục gồm: Hàn Quốc, Philippin, Belarus, Ukraina, Cuba theo học.

Tuỳ theo từng loại chương trình mà đội ngũ giảng viên nước ngoài được bố trí đảm nhiệm việc giảng dạy trực tiếp từ 20% đến 70% thời lượng giờ giảng dạy của toàn khóa và 100% các chương trình đều được bố trí giờ dạy của giảng viên nước ngoài.

Nguồn theo Báo điện tử Dân Trí

Tư Vấn Tuyển Sinh 2023: Trường Đh Sư Phạm Hà Nội – Đh Hà Nội Giữ Ổn Định Chỉ Tiêu Tuyển Sinh Và Có Hệ Sinh Thái Giáo Dục Đặc Biệt

4.5/5 – (2 lượt đánh giá)

1. Tư vấn tuyển sinh 2023 cùng Trường ĐH Sư phạm Hà Nội

Ngày 04/04/2023 vừa qua, HOCMAI đã tổ chức buổi Tư vấn Tuyển sinh & Hướng nghiệp “Chọn chuẩn trường – Đi chuẩn đường” với sự góp mặt của chúng tôi Nguyễn Đức Sơn – Phó hiệu trưởng Trường ĐHSP Hà Nội và chúng tôi Nguyễn Lân Hùng Sơn – Trưởng khoa Sinh học Trường ĐHSP Hà Nội.

1.1. Kỳ thi đặc biệt tại ĐH Sư phạm Hà Nội

Tại sự kiện, PGS.TS. Nguyễn Đức Sơn – Phó hiệu trưởng Trường ĐHSP Hà Nội đã có những chia sẻ chi tiết về 02 kỳ thi đặc biệt sử dụng để tuyển sinh vào trường, bao gồm

– Kỳ thi Đánh giá năng lực độc lập Trường ĐH Sư phạm Hà Nội:

Năm 2023, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội tổ chức Kỳ thi Đánh giá năng lực độc lập. Bài thi được xây dựng gần gũi dựa trên kiến thức bậc THPT giúp các em vừa có thể ôn thi tốt nghiệp THPT vừa có thể thi bài thi Đánh giá năng lực độc lập này. Vì vậy, chỉ cần các em học sinh nắm chắc kiến thức bậc THPT đã có thể tham dự kỳ thi này nhằm tăng thêm cơ hội đỗ vào trường. Năm nay, Kỳ thi được tổ chức 1 lần vào ngày 6/5 tại 2 địa điểm đó là Trường ĐH Sư phạm Hà Nội và trường ĐH Quy Nhơn.

Điểm khác biệt của thi Đánh giá năng lực độc lập Trường ĐH Sư phạm Hà Nội và bài thi ĐGNL ĐHQG HN, bài thi ĐGTD ĐHBK đó là:

+ Các bài thi được xây dựng độc lập, thí sinh được lựa chọn theo từng bài thi hoặc tổ hợp môn

+ Kiến thức được xây dựng dựa trên kiến thức bậc THPT, gần gũi với các em học sinh

+ Trong các bài thi có cả phần trắc nghiệm và tự luận. Phần tự luận cho phép nhà trường lựa chọn những thí sinh có khả năng sử dụng năng lực ngôn ngữ, trình bày, diễn giải tư duy của mình. Đó là những năng lực cần thiết để trở thành những nhà giáo tương lai.

– Kỳ thi năng khiếu Trường ĐH Sư phạm Hà Nội:

Kỳ thi năng khiếu Trường ĐH Sư phạm Hà Nội là kỳ thi dành cho những thí sinh có mong muốn xét tuyển vào các ngành yêu cầu năng khiếu như Sư phạm mầm non, Sư phạm mỹ thuật, giáo dục thể chất, giáo dục mầm non.

1.2. Hệ sinh thái giáo dục đặc biệt ĐH Sư phạm Hà Nội

Ngoài ra, các em sinh viên năm 2 nếu có kết quả học tập tốt đã có thể đăng ký các chương trình học Thạc sĩ (khoảng 15 tín chỉ). Vậy nên, nếu sinh viên thực sự có mong muốn và nỗ lực học thì chỉ cần sau 5 năm đã có 02 bằng cử nhân và thạc sĩ của trường ĐH Sư phạm Hà Nội.

2. Tư vấn tuyển sinh 2023 cùng Trường ĐH Hà Nội

Ngày 06/04/2023 vừa qua, HOCMAI đã tổ chức buổi Tư vấn Tuyển sinh & Hướng nghiệp “Chọn chuẩn trường – Đi chuẩn đường” với sự góp mặt của TS. Nguyễn Thị Cúc Phương – Phó hiệu trưởng trường Đại học Hà Nội; TS. Nguyễn Xuân Thắng – Trưởng khoa Công nghệ thông tin trường Đại học Hà Nội.

Mở đầu, thầy Việt đã cập nhật những điểm khác biệt quan trọng của kỳ tuyển sinh 2023 so với những năm trước. Trong phần nội dung này, đại diện nhà trường cũng đã có những chia sẻ chuyên sâu về các phương án xét tuyển đặc biệt là phương án xét tuyển kết hợp của trường kèm lời khuyên dành cho các sĩ tử khi đứng giữa rất nhiều lựa chọn về phương thức tuyển sinh.

Trong khuôn khổ phần 1, cô Cúc Phương đã bật mí chi tiết về chỉ tiêu xét tuyển của trường. Ở phần này, thầy Nguyễn Xuân Thắng cũng chia sẻ về chỉ tiêu xét tuyển cũng như chương trình đào tạo của ngành Công nghệ thông tin.

Không chỉ khoa Công nghệ thông tin, chương trình cũng để cập đến những thông tin thú vị về ngành Tài chính thông qua phần chia sẻ chân thực của bạn Nguyễn Thu Phương – sinh viên năm ba trường Đại học Hà Nội. Cuối cùng, để PHHS vững tin vào trường Đại học Hà Nội, đại diện nhà trường đã phân tích về cơ hội nghề nghiệp, triển vọng việc làm khi theo học ngôi trường này.

Bước sang phần 2, Cô Cúc Phương và thầy Xuân Thắng đã tiếp nhận và trả lời những thắc mắc của các bạn học sinh cũng như quý phụ huynh xoay quanh thông tin tuyển sinh của Đại học Hà Nội như chi tiết các phương án tuyển sinh, điểm chuẩn dự kiến, ngành nghề phù hợp,…

Chuỗi tư vấn tuyển sinh “Chọn chuẩn trường – Đi chuẩn đường” năm 2023 là sự phối hợp giữa HOCMAI và nhiều đơn vị đào tạo đại học nổi tiếng trên toàn quốc, hứa hẹn sẽ đem đến cho phụ huynh và học sinh các thông tin nóng hổi và trực tiếp từ phía đại diện tuyển sinh của các trường đại học. Sự kiện diễn ra trên nền tảng Zoom, được phát sóng trực tiếp vào tối thứ 3 và thứ 5 hàng tuần.

50 Câu Hỏi Trắc Nghiệm Môn Văn Lớp 12 – Ôn Thi Viên Chức Giáo Viên Thpt Tài Liệu Ôn Thi Viên Chức Giáo Viên

50 câu hỏi trắc nghiệm môn Văn lớp 12 – Ôn thi viên chức giáo viên THPT

Câu 1: Sáng tác của Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh không bao gồm những thể loại nào trong các thể loại sau đây:

Văn chính luận.

Truyện kí.

Thơ ca

Hò vè

Câu 2: Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh được viết theo thể loại nào sau đây:

Văn chính luận

Truyện

Câu 3: Thể loại nào trong các thể loại văn học sau đây ra đời trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954)?

Truyện ngắn

Thơ

Truyện dài

Câu 4: Quê hương của Quang Dũng ở:

Hà Nội

Hà Tây

Nam Hà

Hải Dương

Câu 5: Quang Dũng sinh năm nào?

1915

1921

1922

1925

Câu 6: Đoàn quân Tây tiến được thành lập năm nào sau đây:

1946

1947

1945

1948

Câu 7: Cảm hứng chung của bài thơ Tây tiến là:

Bi

Hùng (hào hùng)

Bị hùng

Câu 8: Bút pháp tiêu biểu của bài thơ Tây Tiến là:

Hiện thực

Lãng mạn

Hiện thực XHCN

Trào lộng

Câu 9: Hoạt động nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi nổi bật nhất ở lĩnh vực nào?

Viết văn

Làm thơ

Soạn nhạc

Viết phê bình

Câu 10: Bài thơ Đất nước được in ở tập thơ nào?

Bài thơ Hắc Hải.

Dòng sông trong xanh.

Tia nắng.

Người chiến sỹ.

Câu 11: Trong thơ Đất nước khi nói về mùa “thu nay” chủ thể trữ tình đứng ở đâu để bộc lộ cảm xúc?

Phố phường Hà Nội.

Núi đồi chiến khu Việt Bắc.

Miền đồi núi xa xôi.

Ở một nơi không xác định.

Câu 12: Hình ảnh nào sau đây có trong bài đất nước thể hiện điểm khác biệt khi cảm nhận về mùa thu của Nguyễn Đình Thi so với các những thơ khác?

Thềm nắng lá rơi đầy

Xao xác hơi may

Phố dài xao xác

Nói cười thiết tha

Câu 13: Chọn từ mà tác giả Nguyễn Đình Thi đã dùng để điền vào chỗ trống trong câu thơ sau:

Từ những năm đau thương chiến đấu

Đã….lên nét mặt quê hương

Bừng.

Ngời.

Sáng.

Ánh.

Câu 14: Năm sinh, năm mất của nhà thơ Chế Lan Viên là năm nào sau đây:

1920 – 1985

1920 – 1989

1925 – 1989

1925 – 1985

Câu 15: Quê của nhà thơ Chế Lan Viên ở:

Nghệ An

Thanh Hoá

Quảng Trị

Bình Định

Câu 16: Trong những tập thơ tiêu biểu của các nhà thơ mới sau đây, tập thơ nào là của Chế Lan Viên?

Đau thương

Thơ thơ

Lửa thiêng

Điêu tàn

Câu 17: Tập thơ nào sau đây không phải là của Chế Lan Viên?

Những bài thơ đánh giặc

Trời mỗi ngày lại sáng

Hoa ngày thường chim báo bão

Ánh sáng và phù sa

Câu 18: Hiểu như thế nào về hình ảnh “mẹ yêu thương” trong bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên?

Đó là mẹ của nhà thơ

Một người mẹ Tây Bắc nào đó

Đó là nhân dân, đất nước

Cả ba hình ảnh trên

Câu 19: Trong nỗi nhớ của Chế Lan Viên không có hình ảnh nào sau đây?

Anh du kích

Em liên lạc

Mẹ chiến nuôi quân

Em gái Tây Bắc.

Câu 20: “Chùa tây Phương” trong bài thơ Các vị La Hán chùa Tây Phương của Huy Cận ở nơi nào được nói đến sau đây:

Advertisement

Thủ đô Hà Nội

Bắc Ninh

Tỉnh Hà Tây

Thái Bình

Mời các bạn tải về 50 câu hỏi trắc nghiệm môn Văn lớp 12 để ôn tập

Phật Giáo Là Gì? Tìm Hiểu Giáo Lý Phật Giáo .

Phật Giáo Là Gì? Trang này sẽ giới thiệu ngắn gọn về Phật giáo và các giáo lý, khái niệm và giáo lý khác nhau.

Phật giáo là một tôn giáo có nguồn gốc khoảng 2500 năm trước và ngày nay được theo dõi bởi khoảng 300 triệu người trên khắp thế giới, chủ yếu ở các nước châu Á.

Ban đầu được gọi là “Trung đạo”, Phật giáo được thành lập bởi một người tên là Siddhartha Gautama – sau này được gọi là Đức Phật – sau khi ông thức tỉnh tâm linh ở tuổi 35.

Phật giáo là một cách đào tạo và phát triển tâm hướng về Niết bàn, một trạng thái của tâm đưa ra cái nhìn sâu sắc về bản chất thực sự của thực tế.

Phật giáo được biết đến như một tôn giáo rất thực tế và không đam mê suy đoán siêu hình về những nguyên nhân đầu tiên.

Càng tỏa ra tình yêu vô biên đối với toàn bộ thế giới – bên trên, bên dưới và trên khắp – Đức Phật

Phật giáo không phải là một tôn giáo dựa trên chủ nghĩa, không có sự thờ phụng của một vị thần hay các vị thần hay thần thánh của Đức Phật. Giáo lý của Đức Phật chỉ nhằm giải thoát chúng sinh khỏi đau khổ.

Kinh nghiệm được phát triển trong các truyền thống Phật giáo qua hàng ngàn năm đã tạo ra những giáo lý độc đáo cho tất cả những ai muốn đi theo một con đường – một con đường cuối cùng dẫn đến Khai sáng hoặc Phật quả.

Bởi vì Phật giáo không bao gồm việc thực hành thờ phượng một vị thần, một số người không xem đó là một tôn giáo theo nghĩa phương Tây, mà nhiều hơn là một triết lý về cách sống một cuộc sống bình yên, trọn vẹn và có ý nghĩa.

Phật giáo giải thích mục đích của cuộc sống, nó giải thích sự bất công và chênh lệch rõ ràng trên thế giới, và cũng cung cấp cho chúng ta một lối sống trực tiếp dẫn đến trạng thái hạnh phúc lâu dài, vô điều kiện.

Phật – Người đã thức tỉnh

Siddhartha Gautama sinh ra trong một gia đình hoàng gia ở Lumbini (Nepal ngày nay), hiện nằm ở Nepal, vào năm 563 trước Công nguyên.

Năm 29 tuổi, anh nhận ra rằng sự giàu có và xa xỉ không đảm bảo hạnh phúc, vì vậy anh đã đi thực hiện Nhiệm vụ để khám phá các tôn giáo và triết lý khác nhau trong ngày, để tìm câu trả lời cho hạnh phúc.

Sau sáu năm điều tra, suy tư và thiền định, cuối cùng anh đã tìm thấy “Con đường trung đạo” và được giác ngộ.

Sau khi Đức Phật giác ngộ, ngài dành phần còn lại của đời mình để giảng dạy các nguyên tắc trong triết lý của mình gọi là Pháp, hay Chân lý, cho đến khi ông qua đời ở tuổi 80 tuổi.

Đức Phật không phải là một loại Thiên Chúa, và ông không bao giờ tự nhận là mình. Anh ấy là một người đàn ông, giống như bạn và tôi, người đã dạy một con đường hướng tới sự giải phóng và sự bình an nội tâm từ kinh nghiệm của chính anh ấy.

Đức Phật thường được so sánh với một bác sĩ bởi vì ông đã đối xử với sự đau khổ mà tất cả chúng ta mắc phải.

Đức Phật cho chúng ta biết làm thế nào chúng ta có thể điều trị hoặc chữa khỏi tất cả những đau khổ của chúng ta. Chẩn đoán và chữa bệnh của ông được gọi là Tứ diệu đế.

Trong Chân lý thứ nhất, Đức Phật đã chẩn đoán vấn đề (đau khổ) và trong Chân lý thứ hai, ông đã xác định được nguyên nhân của nó. Trong Chân lý thứ ba, Ngài nói với chúng ta rằng có một phương thuốc cho bệnh tật của chúng ta và Chân lý thứ tư, trong đó Đức Phật đã vạch ra Bát chánh đạo, Ngài ban cho chúng ta toa thuốc, phương pháp để giải thoát khỏi đau khổ.

Đức Phật dạy chúng ta rằng tất cả các vấn đề và phiền não của chúng ta xuất phát từ trạng thái tinh thần lẫn lộn và tiêu cực của chúng ta và rằng tất cả hạnh phúc và niềm vui của chúng ta là kết quả của trạng thái chánh niệm hòa bình và tích cực của chúng ta.

Ông đã dạy các phương pháp để dần dần đánh bại những tâm trí tiêu cực của chúng ta như giận dữ, ghen tuông, thờ ơ và phát triển những suy nghĩ tích cực của chúng ta như tình yêu, lòng trắc ẩn và trí tuệ.

Thông qua Giáo lý của Đức Phật, có thể trải nghiệm sự bình an và hạnh phúc thực sự và lâu dài. Phương pháp Phật giáo làm việc cho bất cứ ai độc lập với niềm tin, quốc tịch hoặc tuổi tác của họ.

Xin lưu ý rằng thuật ngữ ‘Đức Phật’ có thể đề cập đến cả Đức Phật lịch sử và lý tưởng của chính Phật quả.

Sarana – Tam bảo

Trọng tâm của Phật giáo là “Tam bảo” hay “Tam bảo” – Đức Phật (Người sáng lập), Pháp (Giáo lý) và Tăng thân (Cộng đồng).

Theo truyền thống Phật giáo, khi một người quyết định biến Phật giáo thành một phần trong cuộc sống của họ, họ thường nói “Tôi quy y Phật, tôi quy y Pháp, tôi quy y Tăng đoàn”.

Pancasila – Giới luật

Năm giới, Pancasila trong tiếng Phạn, là một phần quan trọng của triết lý Phật giáo.

Giới luật được xem là những hướng dẫn đạo đức cơ bản được Phật tử tuân theo, để đảm bảo rằng họ tích lũy nghiệp tốt và phát triển tâm trí và tính cách để tiến bộ trên con đường giác ngộ.

Số lượng giới luật có thể thay đổi từ các truyền thống Phật giáo, nhưng Năm giới là một nền tảng chung cho mọi trường phái Phật giáo.

Năm giới không nên được coi là một bộ quy tắc kiên quyết, mà hơn thế nữa là nền tảng thực tiễn cho một cuộc sống đạo đức mạnh mẽ sẽ tạo ra một môi trường phù hợp để tìm ra sự thật của chính chúng ta.

Chúng tạo thành các nguyên tắc cơ bản của đạo đức được thực hiện bởi giáo dân Phật giáo. Chúng không thể tách rời cho cả Phật tánh và các mối quan hệ của chúng ta với nhau và với Vũ trụ.

Majjhima Patipada – Trung đạo

Trung đạo hay Trung đạo là thuật ngữ mà chính Đức Phật dùng để mô tả triết lý tự khám phá của mình dẫn đến giải thoát hay Niết bàn.

Trong hành trình tìm kiếm sự giác ngộ và mãn nguyện, Siddhartha đã theo đuổi một cuộc sống khổ hạnh và tự tử trong sáu năm, và thấy mình đang đứng trước cái chết vì bị bỏ rơi, và vẫn chưa thấy mình đến gần với Khai sáng – anh ta vẫn chưa thoát khỏi từ thế giới đau khổ.

Cơ thể anh ta yếu đến nỗi nói rằng anh ta suýt bị cuốn trôi và chết đuối trong một dòng suối cao đến đầu gối. Một người phụ nữ tên Sujata đã xảy ra khi Gautama ở bang này. Trong một hành động từ bi, cô ấy mời Gautama đang đói một bát cháo. Một thẩm mỹ tự bỏ bê sẽ từ chối lời đề nghị này, nhưng trong một khoảnh khắc rõ ràng, anh ta đã chấp nhận gạo và lấy lại sức mạnh của mình.

Sau khi anh hồi phục sức khỏe và các giác quan của mình, anh đã gọi cách sống của mình là “The Middle Way” – một con đường tránh xa những quan điểm và thực hành cực đoan.

Khái niệm về Trung đạo đã chứng kiến ​​nhiều cách giải thích, nhưng, đơn giản, nó mô tả cách thức hoặc con đường vượt qua và dung hòa tính đối ngẫu đặc trưng cho hầu hết suy nghĩ và vượt qua các thái cực như tự buông thả và tự tử hoặc chủ nghĩa duy vật cũng như tâm linh.

Ý Nghĩa Của Cuộc Sống Trong Phật Giáo

Trong Phật giáo, mục tiêu chính của cuộc sống là chấm dứt đau khổ. Đức Phật giải thích rằng con người đang đau khổ vì chúng ta liên tục bám vào những thứ không mang lại hạnh phúc lâu dài. Chúng tôi vô vọng cố gắng giữ lấy những thứ không tồn tại và điều đó chỉ gây ra nỗi buồn.

Đức Phật hiểu rõ rằng có những điều trong cuộc sống mang lại niềm vui và hạnh phúc, nhưng biểu thị rằng không ai trong số họ sẽ làm chúng ta thỏa mãn và việc chúng ta bám lấy chúng tự nhiên tạo ra nhiều phiền não. Giáo lý của ông chỉ hướng vào tình trạng khó khăn này và giải quyết nó.

Nhận thức được sự vô thường của vạn vật và giải thoát chính mình khỏi sự gắn bó với chúng trong một quá trình quan trọng trong Phật giáo. Nhận thức tâm linh này sẽ làm giảm đau khổ và cuối cùng chấm dứt chu kỳ tái sinh.

Những giáo lý này được thể hiện chính xác nhất trong Tứ diệu đế và Bát chánh đạo, cùng nhau tạo thành nền tảng niềm tin cho tất cả các nhánh của Phật giáo.

Nghiệp – Luật nhân quả

Karma là luật nhân quả phổ quát và, với Samsara, một niềm tin cơ bản trong Phật giáo.

Niềm tin này đã phổ biến ở Ấn Độ trước khi Đức Phật ra đời. Tuy nhiên, chính Đức Phật đã giải thích và xây dựng học thuyết này ở dạng hoàn chỉnh mà chúng ta có ngày nay.

Trong Phật giáo, từ tiếng Phạn Karma có nghĩa là “hành động” và được định nghĩa là ý định thể hiện trong hành động của suy nghĩ, cơ thể và lời nói.

Các giáo lý về Karma giải thích rằng các hành động trước đây của chúng ta ảnh hưởng đến chúng ta, tích cực hoặc tiêu cực, và rằng các hành động hiện tại của chúng ta cũng sẽ ảnh hưởng đến chúng ta trong tương lai, cho dù trong kiếp này hay kiếp sau.

Có nhiều loại nghiệp, nhưng chủ yếu có hai loại chính: nghiệp tạo ra đau khổ và nghiệp giải thoát chúng ta khỏi đau khổ.

Phật giáo sử dụng một phép ẩn dụ nông nghiệp để giải thích việc gieo những hành động tốt hay xấu sẽ dẫn đến quả tốt hay xấu.

Ở quy mô lớn hơn, Karma cuối cùng xác định nơi một người sẽ được tái sinh và tình huống của họ sẽ là gì trong lần tái sinh tiếp theo.

Những hành động dựa trên tình yêu, lòng trắc ẩn, lòng tốt, sự rộng lượng và sự cảm thông dẫn đến việc tạo ra Karma thuận lợi. Mặt khác, những hành động được thúc đẩy bởi sự ích kỷ, tức giận và thiếu hiểu biết, đương nhiên sẽ dẫn đến việc tạo ra nghiệp chướng bất lợi.

Samsara – Chu kỳ tái sinh

Samsara, đôi khi được gọi là tái sinh, là vòng luân hồi của sự chết và tái sinh thông qua sáu cõi tồn tại mà sự sống trong thế giới vật chất bị ràng buộc.

Thường được gọi là tái sinh ở phương Tây, chu kỳ tồn tại có điều kiện này không có bắt đầu và được duy trì bởi sự tích lũy của Karma, và kết thúc cho mỗi chúng sinh khi đạt đến giác ngộ hoặc Niết bàn.

Mỗi cuộc đời bạn trải nghiệm tinh luyện Nghiệp chướng của bạn, và mỗi kiếp luân hồi là một cơ hội để làm điều tốt và cải thiện nghiệp lực của bạn, cuối cùng phá vỡ vòng luân hồi.

Khi có một lối đi đến kiếp sau, không có gì thuộc về tính cách của chúng ta được chuyển giao, không có gì của “chúng ta” đi từ kiếp này sang kiếp khác, chỉ có Karma của chúng ta tiếp tục.

Cho đến khi Nirvana đạt được thông qua Khai sáng, vòng luân hồi được lặp đi lặp lại nhiều lần, vì vậy điều cần thiết là phải nỗ lực tinh tấn và chân thành trong cuộc sống này.

Niết bàn – Thức tỉnh tâm linh Phật giáo

Niết bàn là trạng thái giải thoát tối hậu khỏi vòng luân hồi và được đặc trưng bởi sự xóa bỏ chấp trước, đau khổ và đau khổ.

Đó là một trạng thái của tâm trí của sự hiểu biết và trí tuệ hoàn hảo, kết hợp với lòng tốt và lòng trắc ẩn vô biên.

Một người đạt đến Niết bàn nhận ra bản chất của tâm tự và không còn trân trọng những nhị nguyên của sự phân biệt đối xử. Đối với một thực thể như vậy, không còn khát khao cũng không nắm bắt; nơi không còn gắn bó với những thứ bên ngoài.

Từ Nirvana là một từ tiếng Phạn có nghĩa là ‘sự tuyệt chủng’ hoặc ‘sự biến mất’, và nó đề cập đến sự tan rã của mối ràng buộc làm nô lệ chúng ta và được gọi là “ngọn lửa của sự tham lam, thù hận và si mê” dẫn đến tái sinh .

Đạt được Niết bàn gắn liền với khái niệm nghiệp, trong đó các hành động tích lũy và chấp trước của cuộc sống trở thành lý do khiến linh hồn bị mắc kẹt trong một vòng luân hồi vô tận. Kết quả của sự tuyệt chủng của niềm đam mê, hận thù và si mê cá nhân là sự tự do khỏi vòng luân hồi bất tận của luân hồi hay tái sinh.

Khai sáng là một sự hiểu biết về cả tâm trí của chúng ta cũng như thế giới bên ngoài. Kiến thức như vậy là liều thuốc giải độc thiết yếu cho sự thiếu hiểu biết và đau khổ.

Làm theo lời dạy của Đức Phật dẫn đến sự giải thoát khỏi tái sinh và chứng đắc Niết bàn.

Một cá nhân đạt được Niết bàn là một vị Phật.

Theo truyền thống Theravada, nhánh Phật giáo cổ xưa nhất vẫn còn tồn tại đến ngày nay, bạn cần phải là một Tu sĩ và theo đuổi một đời sống tu sĩ để đạt được Khai sáng. Phật tử Theravada cho rằng gần như không thể cho một cư sĩ đạt được Niết bàn hay giác ngộ.

Trong Đại thừa, sự giác ngộ có thể đạt được bởi bất kỳ ai, cư sĩ hay tu sĩ như nhau. Bất kỳ chúng sinh nào cũng có thể đạt được giác ngộ bởi vì tất cả chúng sinh đều sở hữu Phật tánh.

Vũ trụ học Phật giáo

Vũ trụ Phật giáo hiện đại một cách đáng ngạc nhiên khi nó nhận ra sự tồn tại của hàng triệu thế giới khác và tình cờ khẳng định rằng chúng có người ở bởi chất lượng khác nhau.

Vũ trụ Phật giáo mô tả cấu hình và sự phát triển của Vũ trụ theo kinh điển Phật giáo.

Kinh điển đề cập đến khoảng ba mươi mốt mặt phẳng tồn tại khác nhau hoặc “cõi” mà chúng sinh có thể được tái sinh trong thời gian dài lang thang qua Samsara.

Những kế hoạch tồn tại này rất đa dạng và đi từ những cõi cực kỳ khắc nghiệt và đau đớn cho đến những cõi trời đẹp đẽ, tinh tế, tinh tế và hạnh phúc.

Sự tồn tại trong mỗi cõi không phải là một cái gì đó vĩnh cửu, mà là tạm thời. Trong vũ trụ học Phật giáo, không có gì là vĩnh viễn.

Tùy thuộc vào bản chất của Karma của họ, chúng sinh được sinh ra trong một cõi cụ thể hay khác. Đôi khi sau cái chết của họ, họ trở lại với cuộc sống một lần nữa ở một nơi khác, theo chất lượng của Karma của họ. Những hành động lành mạnh mang lại sự tái sinh thuận lợi, trong khi những hành động bất thiện dẫn đến một điều không thuận lợi. Và thế là chu kỳ vất vả tiếp tục.

Pháp – Giáo Lý Của Đức Phật Trilaksana – Ba sự thật phổ quát

Trong thời gian giác ngộ, Đức Phật đã khám phá ra ba Chân lý vĩ đại mà sau này sẽ trở thành một phần của giáo lý trung tâm của Phật giáo.

Còn được gọi là Ba đặc điểm phổ biến của sự tồn tại, những Chân lý phổ quát này luôn tồn tại và chúng cho chúng ta sự khôn ngoan để hiểu phải làm gì với cuộc sống của chúng ta.

Ba Chân lý của sự tồn tại là những chân lý vô thường (Anitya), đau khổ (Dukkha) và vô ngã (Anatman).

Tứ diệu đế

Ngày nay, Phật giáo được chia thành nhiều trường phái, nhưng bản chất của giáo lý của Đức Phật được tóm tắt trong Tứ diệu đế và là trung tâm của mọi truyền thống Phật giáo.

Chúng là sự thật của đau khổ, sự thật của nguyên nhân đau khổ, sự thật về sự kết thúc của đau khổ và sự thật của con đường dẫn đến sự kết thúc của đau khổ.

Chính bốn nguyên tắc này mà Đức Phật đã nhận ra trong lúc thiền định dưới gốc cây bồ đề nơi Ngài đạt được Niết bàn.

Bốn sự thật này được gọi là “cao quý” vì tầm quan trọng cơ bản của chúng – chúng là những lời dạy giải thoát chúng ta khỏi đau khổ, con đường dạy chúng ta cách thoát khỏi tham ái.

Những Chân lý này nói rằng chúng ta khao khát và bám vào những trạng thái tinh thần vô thường và những thứ không có khả năng thỏa mãn và đau đớn (dukkha). Sự khao khát này giữ cho chúng ta bị cuốn vào vòng luân hồi bất tận của Samsara hoặc tái sinh.

Tứ diệu đế đại diện cho sự thức tỉnh và giải thoát của Đức Phật, nhưng cũng có khả năng giải thoát cho tất cả chúng sinh, bao gồm cả bạn và tôi. Điều này có thể được nhận ra bằng cách đi theo Bát chánh đạo.

Cuộc sống là đau khổ và phổ quát. Đôi khi đau khổ thực sự của nó, đôi khi nó là tự tạo. Đau khổ có nhiều nguyên nhân: mất mát, thất vọng, bệnh tật, đau đớn, thất bại, buồn chán và vô thường của niềm vui.

Nhiều người phương Tây thấy giáo lý đầu tiên này là bi quan, nhưng những người theo đạo Phật thấy nó không lạc quan cũng không bi quan, mà thực tế là thực tế.

Bát chánh đạo

Bát chánh đạo là một tập hợp gồm tám thực hành dẫn đến sự giải thoát khỏi Samsara, vòng luân hồi và chấm dứt đau khổ.

Tám phần của con đường giải thoát được tổ chức thành ba yếu tố cơ bản của thực hành Phật giáo – hành vi đạo đức (sila), kỷ luật tinh thần (samadhi) và trí tuệ (Prajna).

Con đường Bát chánh không cần phải được nghiên cứu và thực hành theo bất kỳ thứ tự cụ thể nào mà nên được theo dõi đồng thời ít nhiều vì tất cả chúng đều được kết nối và mỗi một trong những con đường giúp hiểu được những người khác.

Trong biểu tượng Phật giáo, Bát chánh đạo thường được mô tả sử dụng bánh xe Pháp, trong đó tám mặt của nó đại diện cho tám yếu tố của con đường.

Các thành phần của Bát chánh đạo được phân tách giữa ba hình thức đào tạo như sau: hành động đúng, lời nói đúng và sinh kế đúng đắn.

Bát chánh đạo là cốt lõi của con đường trung đạo, và nên được tích hợp vào cuộc sống hàng ngày.

Skandhas – Năm uẩn

Trong Phật giáo, Skandhas là năm yếu tố sáng tác và mô tả sự tồn tại tinh thần và thể chất của một chúng sinh.

Chúng đại diện cho cấu trúc cố định của tâm lý con người cũng như mô hình tiến hóa của nó.

Khái niệm skandhas là một bổ sung cho học thuyết vô ngã của Phật giáo, khẳng định rằng tất cả mọi thứ và chúng sinh đều vô ngã và vô thường.

Khi chúng ta nhìn tỉ mỉ vào bất cứ thứ gì mà chúng ta gắn nhãn “tôi”, “tôi” hoặc “bản thân mình”, chúng ta có thể quan sát rằng nó bao gồm nhiều thành phần, không chỉ các yếu tố cấu thành cơ thể vật chất của chúng ta, mà cả các giác quan khác nhau của chúng ta như tâm trí của chúng tôi.

Đừng quên rằng Năm Skandhas chỉ là hiện tượng tạm thời, có điều kiện. Chúng trống rỗng về bất kỳ bản chất vĩnh viễn nào của bản thân, do đó, chúng ta không nên gắn bó với chúng.

Paramitas – Mười sự hoàn hảo

Paramitas hoặc Sự hoàn hảo là những hành vi mà mọi người cần phải làm để đạt được Sự thức tỉnh và hướng dẫn người khác hướng tới sự giải thoát.

Mười Paramitas là những sự thật đơn giản nhưng sâu sắc mà bất kỳ ai cũng có thể hiểu và áp dụng trong cuộc sống của mình để sống mỗi ngày với lòng trắc ẩn, lòng tốt và sự chân thành.

Chúng là những giáo lý và hướng dẫn trở thành chỗ dựa cho cuộc sống hàng ngày của chúng ta, và điều đó giúp chúng ta trở nên tử tế và tôn trọng mọi cuộc sống.

Thực tế có nhiều danh sách khác nhau của paramitas trong Phật giáo. Mười Paramitas của Phật giáo Nguyên thủy đã được thông qua từ nhiều nguồn, chẳng hạn như Truyện Jataka. Mặt khác, Phật giáo Đại thừa sử dụng tuyển tập Sáu Paramitas lấy từ các Kinh điển Đại thừa khác nhau, bao gồm Kinh Pháp Hoa nổi tiếng cũng như kinh điển Trí tuệ hoàn hảo.

Trivisa – Ba độc dược

Trong Phật giáo, lòng tham, thù hận và si mê được gọi là Tam độc hay Ba gốc bất thiện.

Chúng ăn sâu vào tình trạng của chúng ta đến nỗi hành vi của chúng ta bị vấy bẩn bởi những chất độc này chôn sâu trong ý thức của chúng ta.

Các chất độc của sự tham lam, thù hận và si mê là kết quả của sự thiếu hiểu biết, không biết gì về bản chất thực sự, trí tuệ và lòng trắc ẩn của chúng ta.

Nổi lên từ sự thiếu hiểu biết của chúng ta, những trạng thái tâm trí tiêu cực này có thể kích hoạt những suy nghĩ, lời nói và hành động vô đạo đức và không có đạo đức, gây ra tất cả các loại đau khổ và bất hạnh cho cá nhân chúng ta, cũng như cho những người khác.

Mặc dù giáo lý này có thể có vẻ tiêu cực hoặc khó chịu, nhưng thực sự, một sự hiểu biết khôn ngoan về ba chất độc của sự tham lam, thù hận và si mê cuối cùng là tích cực và trao quyền.

Với sự hiểu biết này, chúng ta chắc chắn có thể nhận thức được các thành phần của sự nhầm lẫn, bất hạnh và đau khổ của chúng ta. Hơn nữa, với sự rõ ràng và sâu sắc này, chúng ta có thể chọn loại bỏ những yếu tố đó.

Sunyata – Sự trống rỗng

Sunyata, thường được dịch là sự trống rỗng và đôi khi là hư vô, là một trong những nguyên tắc bị hiểu lầm nhất của Phật giáo.

Sự trống rỗng không có nghĩa là ‘hư vô’ theo nghĩa hư vô của từ này – chắc chắn không có nghĩa là không có gì tồn tại cả. Chúng ta tồn tại rất nhiều, thế giới xung quanh chúng ta tồn tại rất nhiều.

Để hiểu Phật giáo nghĩa là gì bởi tất cả mọi thứ đều trống rỗng, chúng ta phải tự hỏi mình một câu hỏi cơ bản: Rỗng trống rỗng về cái gì? Câu trả lời khá đơn giản; chúng ta và mọi thứ khác trong Vũ trụ đều trống rỗng của một sự tồn tại riêng biệt.

Sự tách biệt vật lý giữa chúng ta và những người khác, giữa chúng ta và thế giới đưa chúng ta đến kết luận rằng chúng ta tách biệt với phần còn lại. Mọi thứ không tồn tại theo cách năm giác quan của chúng ta nói với chúng ta rằng chúng làm, đây là ảo ảnh lớn mà Phật giáo nổi tiếng nói về.

Mọi thứ trong vũ trụ đều được kết nối với nhau. Trong Phật giáo, nó được gọi là nguồn gốc phụ thuộc của người Hồi giáo: không có gì tồn tại trong sự cô lập, độc lập với cuộc sống khác.

Sự tồn tại của chúng ta không chỉ phụ thuộc vào các tồn tại khác mà còn phụ thuộc vào rất nhiều điều kiện cũng có chuỗi phụ thuộc dài vô tận.

Trisiksa – Ba khóa đào tạo

Trisiksa hay “ba khóa đào tạo” trong tiếng Anh, đề cập đến các thực hành cần thiết cho Khai sáng – đạo đức, thiền định và trí tuệ.

Ba khóa đào tạo này kết hợp tất cả các khía cạnh của giáo lý Phật giáo và là một phương pháp toàn diện được sử dụng để vượt qua sự gắn bó và đau khổ.

Theo Phật giáo, theo đuổi khóa đào tạo này dẫn đến việc từ bỏ dục vọng, hận thù và si mê và chỉ những người hoàn thành đầy đủ trong khóa đào tạo này mới có thể đạt được Niết bàn.

Kinh – Kinh Điển Phật Giáo

Kinh điển (sutta in Pali) là kinh điển Phật giáo Canonical chứa đựng những giáo lý cổ xưa có giá trị được viết bởi các đạo sư Phật giáo đã xuất hiện từ lâu trước chúng ta.

Trái với những niềm tin phổ biến, kinh điển không được Đức Phật viết. Ban đầu, các văn bản Phật giáo được các nhà sư truyền miệng bằng lời nói nhưng sau đó được viết ra và viết thành các bản thảo sử dụng nhiều ngôn ngữ Ấn-Aryan sau đó được phiên âm sang các ngôn ngữ khác nhau trong khu vực khi Phật giáo phát triển.

Một số học giả Phật giáo tin rằng một số phần của Pali Canon không chỉ chứa đựng bản chất thực sự của giáo lý nguyên thủy mà có thể là những lời của chính Đức Phật.

Mỗi bản kinh mang theo sự khôn ngoan sâu sắc, và chúng thường được viết dưới dạng một cuộc trò chuyện giữa một bậc thầy và một học sinh. Chính sự đơn giản đàm thoại này làm cho kinh điển Phật giáo rất dễ tiếp cận.

Ba Truyền Thống Phật Giáo

Phật giáo không phải là một tôn giáo nguyên khối. Khi nó mở rộng khắp châu Á hơn 1500 năm trước, nó đã tách thành nhiều truyền thống, mỗi truyền thống đều có kinh điển và diễn giải về giáo lý của Đức Phật.

Ngay cả khi có một số khác biệt về giáo lý giữa các truyền thống này, tất cả đều tuân theo cùng những giáo lý cơ bản của Đức Phật lịch sử.

Có ba truyền thống Phật giáo chính: Phật giáo Nguyên thủy, Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Kim cương thừa Kim cương thừa.

Phật giáo Nguyên thủy

Truyền thống Theravada, có tên là “Học thuyết của người lớn tuổi”, được coi là gần nhất với hình thức Phật giáo Ấn Độ nguyên thủy.

Bảo thủ hơn, Phật giáo Nguyên thủy nhấn mạnh đến sự giác ngộ cá nhân thông qua nỗ lực bản thân và sự sùng kính tu sĩ toàn thời gian và dựa trên những giáo lý và thực hành của nó chỉ dựa trên Canon Pali. Theravada nhấn mạnh hơn nhiều vào cách tiếp cận tu viện so với các hình thức khác của Phật giáo.

Phật tử Theravada được biết đến với cam kết của họ trong việc nghiên cứu khẩu súng khổng lồ của những lời Phật, mà họ tin là một đại diện kỹ lưỡng, chính xác và đầy đủ của giáo lý Phật giáo đúng đắn.

Truyền thống Theravada được coi là lý tưởng của họ “La Hán”, một người đã đạt đến trạng thái hoàn thiện và giác ngộ thông qua các thực hành kỷ luật và thiền định nghiêm ngặt.

Ngày nay, Theravada là hình thức thống trị của Phật giáo ở các quốc gia như Sri Lanka, Thái Lan, Lào, Campuchia và Miến Điện.

Phật giáo Đại thừa

Đại thừa có nghĩa là “Phương tiện vĩ đại” và nhấn mạnh đến lòng từ bi phổ quát và lý tưởng vị tha của Bồ tát.

Bồ tát là một cá nhân giác ngộ, người quyết định không hoàn toàn nhập vào Niết bàn mà thay vào đó, ở lại trong vòng luân hồi để tiếp tục giúp người khác đạt được giác ngộ và tự do khỏi đau khổ.

Truyền thống Đại thừa tránh sự nhấn mạnh quá mức vào tu viện tự phục vụ và tập trung vào sự thức tỉnh của quần chúng và khả năng của các cư sĩ cũng như các tu sĩ để đạt đến Niết bàn.

Chi nhánh Đại thừa khuyến khích ý tưởng rằng một hành giả không nên tìm kiếm sự giác ngộ vì những lý do cá nhân, ích kỷ, mà vì lợi ích của tất cả chúng sinh.

Thật thú vị, nó cũng chấp nhận các phương pháp khác như những cách để đạt đến giác ngộ – nó không chỉ bao gồm thiền định và các kỷ luật cá nhân mà cả những hành động vị tha được thực hiện vì lợi ích của người khác.

Đại thừa được thực hành ngày nay tại Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam.

Phật giáo Kim Cương thừa

Kim cương thừa hay “Xe kim cương” là một trường phái Phật giáo bí truyền chia sẻ nhiều khái niệm cơ bản về Đại thừa, nhưng cũng giới thiệu một bộ sưu tập các kỹ thuật tâm linh được thiết kế để tăng cường thực hành Phật giáo.

Đôi khi được gọi là Thần chú, Mật tông, Phật giáo Kim Cương thừa bao gồm các thực hành sử dụng thần chú, Mudra, mandalas và hình dung của các vị thần và Phật. Phật giáo Kim Cương thừa cũng rất chú trọng đến các nghi lễ và lời nói lặp đi lặp lại.

Những kỹ thuật tâm linh độc đáo này được sử dụng để đạt được giác ngộ càng nhanh càng tốt, và thậm chí rất khó để những người không hành đạo hiểu được Phật giáo Kim cương thừa.

Phật giáo Kim Cương thừa cũng chú trọng nhiều vào việc thực tập từ bi.

Phật giáo Kim Cương thừa được thực hành ngày nay ở Tây Tạng, Nepal, Bhutan, Mông Cổ và Nhật Bản (truyền thống Shingon).

Đăng bởi: Vũ Tố Uyên

Từ khoá: Phật Giáo Là Gì? Tìm hiểu giáo lý Phật Giáo .

Bàng Hoàng: Thầy Giáo Và Nữ Sinh Đánh Nhau “Tay Đôi” Trong Lớp

Một đoạn video – clip được chia sẻ trên mạng xã hội facebook mới đây đã ghi lại cảnh thầy giáo và học sinh đánh nhau tay đôi trong lớp học gây sốc dư luận.

Đoạn video – clip được đăng tải vào ngày 16/2 có độ dài 23 giây do một người dùng facebook đưa lên, quay lại cảnh thầy giáo và học sinh trên tay mỗi người cầm 1 quyển sách đánh vào mặt đối phương ngay trong lớp học. Dù sao đó, thầy giáo đã bỏ đi thế nhưng nữ học sinh kia vẫn cầm quyển sách ném theo và cầm bút viết đe dọa những người khác đến can ngăn.

Bức xúc hơn nữa là trong lớp học lúc đó có rất nhiều học sinh khác, thế nhưng khi chứng kiến vụ việc này nhiều em còn có thái độ hùa theo gây bàng hoàng dư luận.

Qua tìm hiểu của chúng tôi sự việc trên xảy ra vào ngày 15/2 tại trường THPT Tầm Vu, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang được một học sinh của trường ghi lại. Ngày 17/2 Hiệu trưởng Trường THPT Tầm Vu – ông Nguyễn Văn Tỉnh cũng đã lên tiếng xác nhận vụ việc trên và cho biết xảy ra tại lớp học 10A3 của trường.

Theo xác nhận của ông Tỉnh, thầy giáo trong đoạn video – clip trên là thầy Nguyễn Quang Kỉnh giáo viên bộ môn Toán và nữ học sinh tên Nguyễn Thị Kim Ngân là học sinh lớp 10A3 của trường.

Ông Tỉnh cho biết, sự việc trên xảy ra vào ngày 15/2 trong tiết học môn Toán lớp 10A3 của trường. Tình huống xảy ra khi em Ngân nói chuyện và gây mất trật tự nhiều lần trong giờ học, bị thầy Kỉnh nhắc nhở. Tuy vậy, em Ngân đã không nghe và có thái độ phản ứng với lời lẽ xúc phạm thầy giáo dẫn tới xảy ra sự việc không hay.

Được biết, em Ngân là 1 học sinh có học lực trung bình, thường xuyên bị giáo viên nhắc nhở vì hành vi nói chuyện riêng trong các giờ học. Về thầy Kỉnh, đã công tác 8 năm tại nhà trường và được đánh giá là giáo viên có đạo đức tốt, quan tâm tới học sinh.

Hiện tại, Ban giám hiệu nhà trường đã yêu cầu em Ngân và thầy Kỉnh viết tường trình nêu rõ sự việc. Đồng thời, trường cũng sẽ báo cáo lên sở GD&ĐT tỉnh Hậu Giang cùng với các cấp thẩm quyền để có phương pháp xử lý.

Về phía thầy Kỉnh cũng đã nhận lỗi và ăn năn do bản tính nóng không kiềm chế hành vi của bản thân. Em Ngân cũng đã có lời xin lỗi thầy và nhà trường về thái độ không tốt của mình.

Hiệu trưởng Tỉnh cũng khẳng định, sẽ tiến hành xem xét vụ việc và xử lý theo đúng quy định, không bao che. Bên cạnh đó nhà trường cũng đá báo cáo vụ việc về Sở GD&ĐT tỉnh Hậu Giang. Hiện tại, cả thầy Kỉnh và học sinh Ngân đã nhận lỗi và vẫn lên lớp như bình thường.

Ý Nghĩa ‘Thọ Giới’ Trong Phật Giáo

Đối với người xuất gia, vì sự tiến bộ, phát triển hay sa đoạn, thoái hóa của một cá nhân không phải chỉ riêng cá nhân ấy đơn phương chịu trách nhiệm mà lại có liên hệ đến vấn đề hưng thịnh hay suy tàn của Tập thể Tăng già, và từ đó đưa đến sự hưng thịnh hay suy tàn của đạo pháp.

Tăng già là một trong ba ngôi báu biểu hiện sự tồn tại của Phật pháp, và cũng vì Tăng già là người trực tiếp thay Phật tuyên dương chánh pháp, như ta từng biết: “Nhân năng hoằng đạo, phi đạo hoằng nhân”. Do đó vấn đề truyền thọ giới pháp cho người xuất gia phải do tâp thể Tăng truyền cho một người và sự tiến hành truyền thọ cũng phải được chấp hành nghiêm chỉnh theo nhưng quy tắc đã chế định sau khi đẫ nghiệm xét kỹ lưỡng tư cách của giới sư cũng như của giới tử. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ xin đề cập đến sự truyền giới pháp cho đoàn thể xuất gia. Nhưng trước khi đi vào vấn đề, thiết nghĩ, chúng ta cũng cần biết qua một số quan điểm khác nhau về tính chất thọ giới như sau:

Trong Luật học, được gọi là chính thức thọ giới khi giới tử đối trước hội đồng thập sư gồm một vị Hòa thượng, một vị Yết ma, một vị Giáo thọ và bảy vị Tôn chứng của Tăng già, chí thành nhận lãnh. Khi điều khoản của Giới (Giới tướng) được đọc lên, giới tử nghe rõ, hiểu thấu và nhận lãnh bằng sự phát thệ dũng mãnh thì mới gọi là thành tựu. Nhưng trong một vài trường hợp, khi không thỏa mãn nhu cầu chính thức như vậy, người ta có thể thực hiện một cuộc tự phát thọ giới gọi là Giới tự nguyện như Hoàng hậu Thắng Man trong kinh Thắng Man.

Lục tổ Huệ Năng nói: “Nào ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh, nào ngờ tự tánh vốn không ô nhiễm” nếu hồi quang phản chiếu, người ta có thể làm hiển lộ giới tự tánh ấy ra trong khi hành động.

2) Giới lý tưởng:

3) Giới tự tánh:

Đây là chủ trương của Thiền Tông. Theo tông phái này, ý niệm giới luật nguyên lai sẵn có trong tự tính của con người. Như Lục tổ Huệ Năng nói: “Nào ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh, nào ngờ tự tánh vốn không ô nhiễm” nếu hồi quang phản chiếu, người ta có thể làm hiển lộ giới tự tánh ấy ra trong khi hành động. Tuy chủ trương như thế, nhưng trên mặt hình tướng của sự truyền thọ giới pháp cũng được Thiền Tông đặc biệt chú trọng, như ta thấy, dù đã ngộ được chơn tâm và đã được Ngũ tổ Hoằng Nhẫn ấn chứng, nhưng khi cơ duyên hành đạo đã đến, Ngài Huệ Năng đến chùa Pháp Tánh xin đăng đàn thọ cụ túc giới với Hòa thượng Trí Quang Luật Sư, giới đàn do Pháp sư Ấn Tông đứng ra tổ chức.

Vì tính chất quan trọng của giới thể như thế nên để cho giới thể phát sinh viên mãn, tư cách của người truyền giới và người thọ giới cũng phải được nghiệm xét kỹ càng trước khi tiến hành truyền thọ.

Dù thời gian thọ giới quá ngắn ngủi so với thời gian giữ giới dài suốt cuộc đời, nhưng nó lại là thời điểm cực kỳ quan trọng có tính cách quyết định sự tuân thủ giới hạnh có nghiêm túc hay không trong suốt cuộc đời hành trì của giới tử. Bởi vì giây phút đầu tiên ấy, tâm lý giới tử được tác động mạnh do hình thức truyền giới trang nghiêm làm phát sinh ra cái tinh thể của giới vốn có trong tự tánh, nhờ đó mà về sau có những trường hợp người giữ giới lâm vào hoàn cảnh có thể phạm giới một cách dễ dàng nhưng vẫn kềm chế được. Cái tinh thể ấy là “Giới thể” hay còn gọi là “Giới thể vô biểu”. Giới thể này rất quan trọng, nếu thiếu, việc gìn giữ giới khó mà hoàn bị được. Giới này là vô biểu nghiệp, tức năng lực tác ý luôn luôn được hoạt động sâu mạnh do một ấn tượng thâu nhập được trong khi thọ giới một cách trung thành. Sự thực, đó là kết quả của sự tự nguyện diễn ra vào lúc trang nghiêm thọ giới.

Năng lực này nó tự bộc lộ trong tư tưởng, trong ngôn ngữ, trong hành vi bất cứ lúc nào cần thi hành nhiệm vụ, nhờ đó, người ta sẽ hành động thích ứng với giới pháp. Có thể nói, giới thể là sức mạnh đạo đức hoạt động sâu thẳm trong tâm chỉ đạo hành vi giữ giới. Nói chung, sự quan trọng của Luật học là được đặt trên cái tinh thể của giới thể, tức thế lực được tạo ra khi phát nguyện, nó luôn luôn tác động mãnh liệt chống lại bất cứ sự vi phạm nào đối với sự tự nguyện đó. Hữu Bộ Câu Xá Tông cho giới thể thuộc sắc pháp (Vô biểu sắc), còn Thành Thật Tông lại cho là một pháp đặc biệt phi sắc phi tâm, Duy Thức Pháp Tướng Tông thì coi nó như một hình thức tự giác được hiện hành từ chủng tử của tư tâm sở (Cetana) khi thọ giới. Đây là một tác dụng tâm lý không lộ diện mà giữ được cho người trì giới ứng hợp được với sự hành trì giới hạnh của mình.

Hình thức trang nghiêm của giới đàn và sự tác pháp Yết Ma long trọng đã tác động mạnh vào tâm tư của giới tử trong khi thọ giới, làm cho giới thể được phát sinh.

1) Tư cách người truyền thọ:

Năm trọng tội của một Tỳ kheo là phá Yết ma tăng, phá Pháp luân tăng, phá kiến, phá giới, nuôi đệ tử mà không biết dạy. Do trọng tội thứ năm này mà tư cách làm thầy phải được trang bị ngay từ khi đắc giới Tỳ kheo: “Ngũ hạ dĩ tiền chuyên tinh giới luật), hay có thể nói là đã bắt đầu học tập từ lúc còn là Sa di (tuy Tỳ kheo sự, Sa di đương dự tri chi). Trong tư cách làm thầy có nhiều đức tính, nhưng chung quy chỉ gồm hai mặt vật chất và tinh thần. Nhất là mặt tinh thần, người làm thầy phải đủ khả năng hướng dẫn người đệ tử thực hiện mục tiêu giải thoát bằng cách chỉ dẫn con đường tu tập Giới, Định, Huệ và vị ấy còn phải có trí tuệ để giải quyết những thắc mắc cho người đệ tử.

1. Tuổi thọ phải đủ 10 hạ.

2. Phải biết rõ thế nào là trì, phạm, khinh, trọng.

4. Có khả năng giải quyết những tâm tư khúc mắc của đệ tử.

5. Có khả năng đoạn tận, đoạn trừ tà kiến cho đệ tử. Nếu xét thấy tư cách làm thầy của mình chưa hội đủ thì không nên làm thầy vội mà phải tiếp tục tu tập trao dồi giới hạnh và kiến thức.

Về sự nghiệp, xét tư cách của giới tử trong buổi đầu chỉ đặt trọng tâm ở niềm tin nơi ngôi Tam bảo và có đời sống phạm hạnh (Tứ bất hoại tín). Nhưng do khi giáo đoàn được mở rộng cho mọi người không phân biệt thành phần giai cấp trong xã hội gia nhập, thì sự nghiệm xét đơn giản như trước chưa được gọi là tương đối đầy đủ để xác định tư cách một giới tử, do nhu cầu khách quan đó, sự nghiệm xét kỷ lưỡng giới tử lại được thêm vào.

Do đó, theo quy định trong Luật tạng, một vị Hòa thượng không được đồng thời truyền thọ giới cụ túc cho hai Sa di trong cùng một năm, vì làm như thế sẽ không làm sao chu toàn trách nhiệm nuôi nấng và giáo dục được. Nhưng trên thực tế ở nước ta ngày nay, nguyên tắc này không được áp dụng. Do vì sự sinh hoạt của Tăng già đã gắn liền với sinh hoạt của Giáo hội, có hệ thống tổ chức từ Trung ương cho đến địa phương, nên việc tổ chức giới đàn truyền giới cụ túc có quy mô rộng rãi trên toàn quốc hay cho một khu vực rộng lớn nào đó, và được Giáo Hội đứng ra đảm trách. Trong trường hợp này, Hòa thượng đàn đầu là một vị Tôn túc trong Hội Đồng Giáo Phẩm được mời ra nên cùng một lúc, cùng một giới đàn, một vị Hòa thượng có thể truyền giới cho một số Sa di đông đảo có khi lên đến 1000 người.

Đồng thời, trong chính giới đàn ấy, giới Sa di và giới Bồ tát cũng được tổ chức truyền thọ. Trong trường hợp như thế, ý nghĩa nguyên thủy của danh từ Hòa thượng trở thành trách nhiệm của vị Thế độ Bổn sư. Vì vị Hòa thượng truyền giới trong trường hợp này nhiều khi không biết gì nhiều về thân thế của người thọ giới với mình.

Trong kinh Khu Rừng (Vanapattha suttam_ trong bộ Majjhima Nikaya) Phật dạy: Một vị đệ tử phải từ bỏ mà đi khi nhận thấy vị đạo sư của mình không có khả năng chỉ dạy cho mình Giới, Định, Huệ dù cho nơi đó có đầy đủ tứ sự cúng dường; và một đệ tử tha thiết xin ở lại dù cho nơi đó có bị vị đạo sư hất hủi, khi vị ấy có đủ khả năng hướng dẫn mình tu tập Giới, Định, Huệ và cho dù nới đây có hay không có đầy đủ tứ sự cúng dường.

Về sự nghiệp, xét tư cách của giới tử trong buổi đầu chỉ đặt trọng tâm ở niềm tin nơi ngôi Tam bảo và có đời sống phạm hạnh (Tứ bất hoại tín). Nhưng do khi giáo đoàn được mở rộng cho mọi người không phân biệt thành phần giai cấp trong xã hội gia nhập, thì sự nghiệm xét đơn giản như trước chưa được gọi là tương đối đầy đủ để xác định tư cách một giới tử, do nhu cầu khách quan đó, sự nghiệm xét kỷ lưỡng giới tử lại được thêm vào. Đó là kiểm nghiệm 13 Già nạn, còn gọi là 13 chướng ngại đạo pháp, tức là những điều gây trở ngại cho việc chứng đắc Thánh quả ngay trong đời này do thân và tâm có khuy khuyết.

Công việc kiểm nghiệm này được thực hiện bởi Tăng, nó thuộc về giai đoạn chính thức tác thành Yết Ma cho thọ cụ túc giới. Luật Tứ phần quy định: Trước khi bạch Yết Ma cho thọ Cụ túc giới, Tăng phải khảo hạch 13 Già nạn. Một giới tử nếu có một trong 13 già nạn này thì không thể thành tựu mục tiêu phạm hạnh nên không được phép thọ cụ túc giới. Nếu do không xét nghiệm kỹ mà một người được Tăng cho thọ cụ túc, nhưng về sau nếu bị khám phá ra, thì dù người ấy có được chính thức truyền thọ giới bởi Tăng đi nữa cũng bị tẩn xuất. Vì sự tồn tại và hưng thạnh của Tăng là do có thành tựu mục tiêu phạm hạnh, chứ không phải do số đông. Nay một người không đủ điều kiện để chứng đắc Thánh quả là dấu hiệu của sự suy thoái của Tăng, do đó mà tẩn xuất.

1) Phạm biên tội

2) Phá tịnh hạnh Tỳ kheo ni

4) Phá nội ngoại đạo

5-9) Phạm tội ngũ nghịch

11) Phi nhân

12) Súc sinh

Ngoài ra, giới tử còn bị thẩm tra 10 khinh nạn, vì do 10 điều này không phải là pháp chướng ngại pháp, nhưng đó là những mối ràng buộc bản thân với gia đình và xã hội mà giới tử cần phải giải quyết xong trước khi xuất gia tu tập.

Mười khinh nạn được thẩm tra dưới các câu hỏi:

2. Có phải là người trốn nợ không?

3. Ngươi có phải là đầy tớ trốn chủ không?

5. Đàn ông mà có bệnh cùi hủi, ung thư, ghẻ lở, lao phổi, tiểu đường không?

6. Tuổi đủ 20 chưa?

8. Cha mẹ có cho phép chưa?

9. Pháp danh ngươi là gì?

Về việc nghiệm xét tư cách của giới tử thọ Tỳ kheo ni cũng tương tự như của Tỳ kheo, nhưng do tính chất khác nhau nên các già nạn của giới tử ni có vài điểm khác nhau. Ni chỉ có 9 già nạn như sau:

1. Đã Tỳ kheo ni giới chưa? (Ni đã thọ cụ túc mà hoàn tục, thì dù không phạm biên tội cũng không được xuất gia thọ giới lại)

3. Giết cha

4. Giết mẹ

6. Gây thương tích cho Phật

7. Phi nhân

9. Nhị hình

Các khinh nạn sau cũng giống như của các Tỳ kheo…

Về sự nghiệp, xét tư cách của giới tử trong buổi đầu chỉ đặt trọng tâm ở niềm tin nơi ngôi Tam bảo và có đời sống phạm hạnh (Tứ bất hoại tín). Nhưng do khi giáo đoàn được mở rộng cho mọi người không phân biệt thành phần giai cấp trong xã hội gia nhập, thì sự nghiệm xét đơn giản như trước chưa được gọi là tương đối đầy đủ để xác định tư cách một giới tử, do nhu cầu khách quan đó, sự nghiệm xét kỷ lưỡng giới tử lại được thêm vào.

1) Giới thành tựu: Để cho giới thành tựu, tất cả hành sự của Tăng phải được thực hiện trong cùng một cương giới ấn định gọi là giới trường để tránh hiện tượng chia rẽ trong Tăng. Truyền giới cụ túc là việc của tập thể Tăng truyền cho một người. Nhưng túc số tăng chính thức chỉ là 10 vị mà không phải là tập hợp tất cả chư Tăng có mặt trong trú xứ. Vì thế phải có cương giới để khuôn khổ hạn chế đúng pháp Yết-ma (và giải quyết này được tính theo nguyên tắc đa số tuyệt đối, có nghĩa là Yết-ma chỉ thành tựu khi 10 giới sư đều nhất trí qua sự yên lặng của mình, không một ai có ý kiến phản đối)

2) Sựu thành tựu: Sự thành tựu là sự nghiệm xét tư cách của giới sư và giới tử. Sự nghiệm xét này phải được tiến hành trước khi chính thức tác pháp Yết-ma, do một vị Giáo thọ A-xà-lê đảm trách hướng dẫn (sự nghiệm xét tư cách như đã trình bày trên). Và sau cùng là Đàn nghi sắp đặt thứ lớp trang nghiêm long trọng đúng pháp.

4) Yết – Ma thành tựu: Yết-ma được thành tựu khi pháp Yết-ma được thực hiện như pháp, nghĩa làkhông có một trong bảy điều phi pháp sau đây:

1. Nhân phi

3. Sự phi

4. Nhân pháp phi

6. Pháp sự phi

7. Nhân pháp sự phi

1. Phi pháp phi Tỳ-ni

2. Phi pháp biệt chúng

4. Như pháp biệt chúng

5. Pháp tương tự biệt chúng

7. Bị ngăn mà không chịu đình chỉ

Ngoài ra trong khi tác pháp bạch Tứ Yết-ma, chư Tăng trong giới trường phải hoàn toàn nhất trí, không một ai phản đối (đa số tuyệt đối) Đối tượng của Yết-ma thọ giới cụ túc là giới tử cũng phải nhất trí tự nguyện lãnh thọ giới pháp. Nếu trong giờ phút thỉnh bạch Yết-ma mà giới tử bỗng nhiên sanh tâm hối hận, không muốn thọ giới thì Yết-ma cũng xem như không thành.

Sau khi đắc giới, nghiễm nhiên giới tử trở thành một Tỳ kheo (hay Tỳ kheo ni) và chính thức trở thành thành viên của đoàn thể Tang già, có những nghĩa vụ và quyền lợi như những thành viên khác.

1. Y trên y phấn tảo

2. Y trên sự khất thực

4. Y nơi hủ lãn dược Theo thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, có 10 trường hợp đắc giới cụ túc:

1. Tự nhiên đắc giới: Trường hợp của vị Độc Giác Phật

3. Thiện Lai tỳ kheo: Do Phật gọi: “Thiện lai Tỳ kheo” mà đắc giới như trường hợp Da-xá

4. Xác nhận Phật là bậc đạo sư: Như trường hợp của Tôn giả Ca-diếp, khi gặp Đức Thế Tôn liền tuyên bố: “Đây là bậc Đạo sư của tôi”, và liền đắc giới.

6. Do thọ Bát kỉnh pháp: Đây là trường hợp của Ba-xà-ba-đề.

7. Do gửi đại biểu: Đây là trường hợp của Tỳ kheo ni Pháp Thọ, do sợ nạn phạm hạnh mà Phật cho phép cử đại diện đến thọ rồi về ruyền lại.

9. Thọ giới với tăng mười người: Dành cho mọi giới tử thọ giới ở nơi đô thị có đông đảo Tỳ kheo.

10. Thọ giới với tăng năm người: Đây là trường hợp dành cho giới tử ở những nơi biên địa không có đông đảo Tăng chúng. Trong trường hợp này phải có ít nhất là một vị trì Luật và hiểu các pháp Yết-ma.

Chỉ có 2 trường hợp cuối cùng, gọi chung là “Bạch Tứ Yết-ma đắc giới” là được áp dụng phổ thông lưu truyền chính thức cho đến ngày nay. Riêng trường hợp Ni thọ giới cụ túc thì có những điểm sai khác như ngoài hội đồng thập sự Tăng, còn có một hội đồng thập sự Ni. Giới tử Ni sau khi được xét nghiệm về tư cách của giới tử, đại khái như đã nêu trên, pháp Yết-ma truyền thọ được tiến hành tại trong Ni Tăng gọi là bản bộ Yết-ma (chính thức truyền giới). Bản bộ Yết-ma thực hiện xong, nội trong ngày ấy (không được để qua đêm), hội đồng thập sự Ni phải dẫn giới tử Ni qua hội đồng thập sự Tăng để cầu chánh pháp Yết-ma (Ấn chứng cho sự truyền thọ). Ở đây, chỉ nêu sơ lược các chi tiết kiểm nghiệm giới tử, cách thức tác pháp Yết-ma trong các bộ Yết-ma đều nói rõ từng chi tiết.

Phật quy định Tỳ kheo phải đủ 10 hạ, Tỳ kheo ni phải đủ 12 hạ mới được thu nhận đệ tử, độ người xuất gia, và trước khi độ người xuất gia, phải được Tăng thông qua với pháp Yết-ma súc chúng. Nếu Tăng thấy chưa đủ tư cách thâu nhận đệ tử xuất gia, dù người ấy đã đủ tuổi hạ, thì cũng không được tự tiện độ người xuất gia. Nếu làm thì phạm Ba-dật-đề.

Sau khi đắc giới, nghiễm nhiên giới tử trở thành một Tỳ kheo (hay Tỳ kheo ni) và chính thức trở thành thành viên của đoàn thể Tang già, có những nghĩa vụ và quyền lợi như những thành viên khác. Tuy nhiên, vị tân Tỳ kheo ấy, suốt thời gian 5 năm đầu phải y chỉ nơi một vị Thượng tọa Luật sư (vị Tỳ kheo thông hiểu giới luật) để học tập cho am tường cac bổn phận trách nhiệm cũng như những điều tác thành tư cách của một Tỳ kheo, tức là am tường các học giới, hiểu rõ thế nào là danh, chủng, tánh, tướng; thế nào là khai, giá, trì, phạm; thế nào là khinh trọng và thông thạo các pháp Yết-ma về lý thuyết cũng như thực hành. Một trong những bổn phận người xuất gia là tục Phật Thánh lưu, tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức. Muốn thực hiện bổn phận ấy, vị Tỳ kheo phải có đủ tư cách làm thầy.

Nhưng làm sao để có thể đào tạo được những con người, có được những con người có được những đức tính như thế? Dĩ nhiên là phải y cứ vào giới luật làm kim chỉ nam cho sinh hoạt Tăng đoàn, mà một trong những vấn đề giới luật có vai trò quan trọng trong việc tác thành nhân cách một Tỳ kheo, đó là sự truyền thọ giới pháp. Nếu không có sự truyền thọ như pháp thì không có Tỳ kheo đắc giới. Không có Tỳ kheo đắc giới như pháp thì bản thể của Tăng không thành tựu. Tăng không có giới bản thể thì không thể nào tiến bộ về mặt tâm linh, không thể nào có người tu chứng. Và như vậy, chánh pháp sẽ không làm sao tồn tại được, cho nên vấn đề truyền thọ giới pháp cho người xuất gia có một ý nghĩa quan trọng trong Phật pháp. Cũng vì vậy mà vấn đề này chiếm một phần trong bốn phần của Luật Tứ Phần.

Phật quy định Tỳ kheo phải đủ 10 hạ, Tỳ kheo ni phải đủ 12 hạ mới được thu nhận đệ tử, độ người xuất gia, và trước khi độ người xuất gia, phải được Tăng thông qua với pháp Yết-ma súc chúng. Nếu Tăng thấy chưa đủ tư cách thâu nhận đệ tử xuất gia, dù người ấy đã đủ tuổi hạ, thì cũng không được tự tiện độ người xuất gia.

Với mục tiêu giải thoát, giác ngộ trên tinh thần tự giác là châm ngôn hành động mà Phật đã dùng để khuyến hóa, giáo dục những người xuất gia. Nhưng trong giáo đoàn xuất gia vẫn có những người xuất gia không vì mục tiêu chân chính đó, không cùng sống trong tinh thần hướng thượng với lý tưởng giải thoát, cũng không chuyển hóa tâm linh qua sự nghiêm trì phạm hạnh. Chính vì điều này mà càng về sau, sự truyền thọ giới pháp càng được chính Đức Phật đề ra những quy định chặt chẽ để kiểm nghiệm, để thử thách, để thanh lọc hàng ngũ Tăng đoàn, nhằm bảo đảm tánh trong sạch cho cá nhân và tập thể để xứng đáng là một trong ba ngôi báu trong Phật pháp.

Tôn trọng giới luật, thì cũng tôn trọng việc truyền giới là lẽ đương nhiên. Tôn trọng sự truyền giới, thì những quy định của pháp Yết-ma không thể bỏ qua được, dù bất cứ lúc nào, ở đâu, và dù là theo hệ phái nào. Vi phạm quy định ấy cũng đồng nghĩa với sự làm tổn thương đến phẩm chất và quyền lực của Tăng già, đó là dấu hiệu suy đồi của chánh pháp.

Những ai trong hàng ngũ xuất gia có để tâm thiết tha đến sự tồn vong của chánh pháp, có thao thức ưu tư đến vấn đề “Tre tàn măng mọc”, có hoài bảo “Thiệu long Thánh chủng, kế vãn khai lai” thì không thể không để tâm nghiên cứu học hỏi tường tận về các pháp Yết-ma, nhất là Yết-ma truyền giới cụ túc, độ người xuất gia.

Cập nhật thông tin chi tiết về Nhiều Giáo Sư, Phó Giáo Sư Nhảy Flashmob Với Sinh Viên Trong Lễ Khai Giảng trên website Exas.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!